13.2.20

mong manh

Thỉnh thoảng lại có bài hát làm mình cảm động. Có khi chỉ là cái tít, một chất giọng ko thể nào mong manh hơn.


Tình yêu. Khi người ta sống đủ lâu thì sẽ thấy thế giới bên ngoài tình yêu thật là bao la. Tình yêu có lẽ chỉ đơn giản là hóa chất. Hóa chất đó có thể đến với ta sau một trận game kéo dài 3 tiếng, sau một ván cờ gian nan, sau một bản nhạc, một bức tranh hay một con đường rực rỡ. Tình yêu trở nên tầm thường tới mức nhắc đến hai chữ "tình yêu" là người ta cảm thấy e dè, sến súa.

Nhưng gì thì gì. Tình yêu vẫn tồn tại, như một sợi tơ vô hình, rung rinh nối hai con người, hai vũ trụ xa lạ, lại với nhau. Thời gian không ngừng trôi. Con người liên tục thay đổi. Sợi tơ đó cứ bị kéo căng ra mãi. Có khi chỉ thoáng đến thoáng đi. Nhưng cũng có những sợi tơ, mong manh đấy, nhẹ nhàng đấy, kì lạ đấy, mà theo nhau hết cả một đời.

6.8.19

xuyên Việt


Thử hình dung nhé. Bạn ở Hà Nội. Hàng ngày đi về giữa đám gạch đá bê tông, xe cộ và khói bụi. Bạn chen chúc vi hàng triệu người khác để hít thở trong bầu không khí AQI chỉ có từ đỏ trở lên. Cứ đi ra khỏi HN được chục km thôi là bạn đã vui sưng hít hà, nhìn thấy vài rặng cây xanh thôi là lòng đã mát rượi, đi giữa một cánh đồng lúa thôi là người đã muốn bay bay. Đấy là chưa nói đến những đoạn phim mà xem xong bạn tự nhủ rằng cảnh đó chỉ có … trong phim, rằng hiếm hoi lắm mất công lắm mi tìm được những chỗ như rứa. Những bức ảnh chụp ở resort post lên FB mà xem xong bạn tự nhủ rằng chỉ có làm hàng … trong resort.

Ấy vậy mà ngồi xe lái xuyên Việt bạn thường xuyên bị nghẹt thở bởi các khung hình trôi liên tục, đẹp như phim và đẹp hơn trong resort, kéo dài đến vô tận theo cả không gian và thời gian. 

Những con đường uốn lượn qua dãy Trường Sơn trập trùng. Nối tiếp là các thung lũng, hoặc cao nguyên. Chúng có thể to rộng ti mức các con đường qua đây thẳng tắp, đi xuống rồi lại đi lên, dưi mặt trời ánh lên như một sợi chỉ bạc xuyên qua đám màu xanh ngút ngàn. Những cánh đồng cỏ bát ngát mà chỉ có lác đác vài con trâu. Sông suối vi đủ những cái tên ngộ nghĩnh được đặt cho những chiếc cầu bắc qua. Những cái hồ nằm ẩn mình đâu đó, chỉ bị phát hiện qua những tia nắng phản xạ trên mặt nưc, lách qua những hàng cây xanh rồi chiếu ti mắt người cầm lái. 

Xe lượn qua cái đèo thì đập vào mắt là mặt nưc xanh biếc trải ti tận chân trời. Biển đó. Trời ơi! Biển và núi cứ thế song hành, muốn tập trung lái xe mà khó quá. Những cái đầm cũng rộng như biển, mặt nưc phẳng lì như gương. Các bãi biển vắng người dài ngắn nối tiếp nhau, cát vàng, cát trắng, nưc thì mỗi nơi xanh một kiểu. Màu xanh của cỏ cây tầng tầng lp lp đậm nhạt đa dạng như nào thì màu xanh của biển cũng thay đổi nhiều như thế. Bạn có thể choáng ngợp trưc sự hùng vĩ của núi rừng, sự bao la của biển cả. Nhưng bạn cũng có thể lặng im thật lâu trưc màu xanh và những sắc thái của nó. 

Nhiều lúc mọi bức ảnh, mọi lời nói đều không thể diễn tả được. Bạn hạnh phúc ti mức tim nhói đau, lòng ngơ ngác. 

Cần phải đi các bạn ạ. Tôi cũng được đi đó đi đây nhưng ít nơi có cảnh quan và thiên nhiên đẹp và đa dạng được như Việt Nam. Hóa ra nơi gần nhất lại là nơi đáng đi nhất. Không nhất thiết cứ phải chui vào resort nằm phèo. Không nhất thiết phải lên kế hoạch tỉ mỉ cho từng ngày từng giờ. Không nhất thiết cứ phải ăn và ở theo reviews / fb. Không nhất thiết cứ phải tắm ở bãi biển nào sạch bong. Cũng đừng hy vọng nơi nào mình đến cũng đều có người dân thân thiện hiếu khách ko chặt chém ra đón chào. Hãy cứ đi, cứ ti những nơi mà … con đường dẫn ti và đón nhận tất cả. Bởi vì chừng đó thiên nhiên, chừng đó sản vật, chừng đó phút giây hạnh phúc đã là quá đủ để đánh đổi lấy bất kể thứ gì rồi.

14.11.17

nỗi nhớ mùa đông

FB nhắc ngày này năm xưa. Nhưng ngày đó cũng chỉ là một ngày rất rất xưa được repost. Chỉ là một đoạn ngắn, trong rất nhiều của những viết lách liên tục những ngày đó còn rơi rớt lại. Đã có lúc cứ tưởng như sẽ còn mãi, nhưng tất cả đều nhạt nhòa theo thời gian, và gần như đã biến mất khỏi kí ức.

======

Lâu rồi tôi không viết gì cả. Khi người ta nhận ra điều đó cũng tức là người ta đang có chút gì như là cảm giác ăn năn, tội lỗi. Kết quả tất yếu là người ta sẽ kiếm một vài thứ nào đó để đổ lỗi. Lần này “nạn nhân” của tôi là thời tiết. Vâng, người ta hay nhắc đến câu “người buồn thì cảnh có vui đâu bao giờ”, nhưng cảnh buồn, lại kéo dài ngày qua ngày, tuần qua tuần, tháng qua tháng, thì đến gỗ đá cũng mòn nữa là người.

Cuối tháng 11, đầu tháng 12 – những ngày ngắn nhất trong năm. Trời không mưa gió bão bùng, đường không ngập tuyết trắng xóa … túm lại là không có cái gì quá ly kỳ rùng rợn hay hoành tráng cả. Mưa lất phất, gió thoảng chút, trời mờ mờ sáng tối lẫn lộn. Tất cả cứ nhạt nhòa lãng đãng. Vài tiếng ngắn ngủi của cái gọi là “ngày” này chỉ đủ để phơi ra những chiếc lá hiếm hoi không rõ màu vàng hay màu nâu còn sót lại giữa những cành cây khẳng khiu như chùm rễ cây chổng ngược lên bầu trời u ám. Đường phố vốn đã vắng người, đến cuối tuần lại càng vắng vẻ. Gió có mà như không, những hạt mưa nhẹ như là không rơi xuống được tới mặt đất … Cảm giác buồn buồn vắng lặng của một ngày cuối năm, của một buổi chiều 30 Tết.

Ừ thì cũng đúng. Sắp đến ngày Sinta Klaus của dân HL rồi còn gì …

Mấy ngày nay tôi nằm mơ hơi nhiều, ngủ cũng nhiều. Ngủ và mơ, tỉnh và thức, lẫn lộn. Có một nỗi nhớ, cũng như thời tiết mùa này, không quay quắt, không khát khao, mà cứ lúc ẩn lúc hiện, cứ chập chờn mãi. Tôi nhớ về một thành phố mà tôi chưa từng đặt chân tới. Đúng hơn là tôi đã qua một lần, rất ngắn trong quá khứ, rất xa, thành phố tôi chỉ được nhìn thật kỹ qua Google Earth gần đây. Có một con sông chảy qua, những con phố bao quanh hình xương cá như bao thành phố tôi đã từng qua. Những con đường vắng vẻ phủ đầy bụi đỏ, những mái nhà nhấp nhô, những dãy phố đan xen, nối tiếp gối vào nhau lúc đi lên lúc đi xuống. Có những lúc, cảm giác như là khi dùng tính năng zoom của Google Earth, tôi thấy mình lướt đi rất nhanh, dọc ngang theo cái bản đồ như là tôi đã từng sống ở đó từ kiếp trước vậy. Lúc khác, tôi như bị thu nhỏ lại, hút vào trong một cái quảng trường thân quen — ở đó cũng có một cái rạp chiếu phim ngoài trời, có những dãy nhà cũ kỹ với tường gạch vôi vữa bong ra từng mảng, những ngõ nhỏ sâu hun hút chẳng biết dẫn tới đâu, có vài chiếc ghế kẻ đứng người ngồi bên gốc cây, có một dãy cột không hiểu để làm gì, có một ông lão tay cầm gậy, lơ đãng đứng nhìn bà lão chơi cùng với cháu. Dường như mỗi điểm trên tấm bản đồ của một thành phố chưa đến đó lại là một bức mosaic của những mảng ký ức nào đó chắp vá lại.



Tôi nhớ những con phố. Không phải là nỗi nhớ quí phái như trong bài “Hà Nội phố” của Phan Vũ, không gắn với một người, một cảm xúc gì quá lớn. Nhớ những người xa lạ đi trên phố, nhớ những bước chân, những nụ cười, những ánh mắt chẳng dành cho tôi. Tôi nhớ bụi, nhớ nắng, nhớ vẻ trẻ trung vội vã của đường phố Sài Gòn. Nhớ cảm giác chầm chậm ngơ ngác, vừa lạ vừa quen của Huế. Nhớ những mảng màu sắc rực rỡ của quần áo phơi ngoài trời in trên nền những mảng tường cũ kỹ ở Venice, như muốn nhắc nhủ rằng thời gian có thể đã in dấu cả nghìn năm, nhưng vẫn có những trái tim đang đập, những đời người ngắn ngủi đang hiện hữu và quay vòng ở đây.

Ngoài kia trời tối đã lâu lắm rồi, cũng chẳng biết khi nào trời sẽ sáng. Mà trời sáng thì cũng có khác mấy đâu … Cảm giác kỳ lạ của một buổi chiều 30 Tết vẫn còn đó. Buồn buồn trong lúc nhìn một năm dần trôi qua như những que hương cháy nốt, nhìn những con phố bị người bỏ rơi trong chốc lát, và biết chắc là chỉ vài tiếng nữa mọi thứ sẽ thay đổi hoàn toàn. Bây giờ ở đây thì tôi nhớ về những con phố nơi khác, những con phố đã qua và sẽ qua. Tôi biết chắc rằng, sẽ có lúc, ở một nơi nào đó, tôi sẽ nhớ về hôm nay, về những hàng cây im lìm xơ xác, những con đường vắng vẻ lất phất mưa ngoài kia …

7.7.17

Back to Delft 2017

Một chặng bay xuyên đêm dài dằng dặc. Một đoàn tàu chạy ngang châu Âu. Dần dần mọi thứ hiện ra quen thuộc. Những đồng cỏ xanh rì phóng hết tầm mắt, những con mương mà mặt nước cao hơn mặt đường. Những ngôi nhà gạch trần, mặt trước là hình nón bậc thang, với những ô cửa kính to hết cỡ để đón mặt trời, cùng một khoảnh sân nhỏ trồng cây cảnh và hoa. Bên hông nhà thường là một chiếc thuyền / ca nô nhỏ in bóng lên dòng nước. Lác đác có người thong thả đạp xe thấp thoáng sau những rặng cây với thùng chứa đồ to đùng. Rồi có ai đang chạy bộ xuyên qua bãi cỏ, theo sau là một con chó lông xù đuôi vẫy tíu tít.

Hà Lan đó. Chuyến đi châu Âu này nằm ngoài dự định. Tôi có lẽ đã ko quay lại Hà Lan / Delft nếu như ko bị "bắt" phải về.  Cuộc sống hiện tại bộn bề với cả núi công việc, cả núi những thú vui và những điểm đến đang đợi phía trước ...

Chuyển sang đoàn tàu xanh / vàng quen thuộc ở ga Amsterdam Centraal, sau chừng 1 tiếng nữa thì tôi đứng đợi ở Den Haag HS. Ngày xưa, trừ ga Delft quê nhà ra thì Den Haag HS là ga mà tôi hay đi qua và hay dừng đợi tàu nhất. Một khoảng không rộng lớn với mái vòm trên cao mà chỉ có lác đác vài người nếu như không phải giờ cao điểm. Đâm ra lúc nào ở đó tôi cũng có cảm giác như đang đợi thêm một ai khác, một điều gì khác. Thời gian và không gian luôn là một thứ gì, quá đỗi dài và rộng, trùm lên mỗi một con người. Di chuyển gần nửa vòng trái đất, đứng ở một điểm mà nhớ về mười năm và như cả ngàn năm trước. Thấy mình bé như hạt cát, bồng bềnh nổi trôi giữa những cơn sóng.

Delft. Những con kênh, những con đường lát gạch, những căn nhà gạch, những lối nhỏ đi bộ. Vẫn tuyến đó xe đạp nối tiếp nhau chạy vèo vèo từ trường tới ga. Vẫn mặt đá hình tròn nằm giữa quảng trường trung tâm có chỉ về 4 hướng Đông Tây Nam Bắc. Trái tim màu xanh. Ghế băng dưới gốc cây để ngồi ngắm East Gate lúc hoàng hôn. Các ông bà già bán mãi không hết gốm Delft Blue ở chợ đồ cũ thứ Bảy hàng tuần. Ngã tư đường vào trường, một cái cột, chẳng hiểu để báo hiệu cái gì,10 năm rồi vẫn đứng nghiêng nghiêng như sắp đổ. 

Mười năm. Mười năm khiến nhiều hàng cây trăm năm ở HN bị đốn gục. Mười năm đó bao nhiêu ngôi chùa cổ kính rêu phong đã "được" làm mới. Mười năm là bao nhiêu tòa nhà mọc lên, bao nhiêu người dân bị mất đất, tù tội ở VN. Mười năm có bao em bé được sinh ra, bao người thân đã đi xa. Vậy mà nơi đó, mười năm cứ chỉ như mới ngày hôm qua. Vẫn im lìm nép bên Binnenwatersloot là cửa hàng bán băng đĩa nhạc cổ điển mà mỗi khi đẩy cửa là có tiếng chuông kính coong vang lên. Báo hiệu thời gian ngừng lại? Mặc cho các cơn lũ iPhone / iPod, Amazon, Google tràn qua. 



Không phải là đi du lịch. Tôi không tìm những địa điểm mới, không đến những chỗ nổi tiếng, không "been there done that". Chỉ đơn giản là một chuyến về quê. Về để cảm nhận lại, và rõ ràng hơn, cái vị tươi, ngậy và bùi của cá haaring sống. Để nằm nghe mùi ngai ngái của cỏ non trên nóc thư viện mà đầu không lo lắng chuyện thi cử, mà tim không khắc khoải nhớ tới một ai khác, một nơi khác. Để tay chạm vào từng viên gạch xưa, từng tấm kính màu cũ. Để chân bước theo từng lối đi không biết sẽ tới đâu. Để cảm nhận sâu hơn về nét vẽ, chất men trong những đĩa gốm mà lâu nay cứ nghĩ là Bát Tràng hàng loại hai. Để thấy rằng người đi tàu hóa ra không cắm mặt vào smartphone, mà họ nói ít hơn, nghỉ, thậm chí là ngủ nhiều hơn trên tàu. Dường như sau một ngày làm việc vất vả, tiếp xúc với quá nhiều người, họ không muốn phá đi nốt chút riêng tư, chút thư giãn còn sót lại bằng cách nhảy vô cái "social network" nào đó khác? Các "living patterns" rõ ràng là đang hiện hữu nơi đây, nhiều nữa là khác, nhưng tôi lại không thể diễn tả rành mạch được hết. Thôi thì để dành cho lần sau :-)


Chắc là có lần sau. Hay là không? Không quan trọng. Nếu có quay lại, một nơi tưởng chừng như quá quen thuộc và không bao giờ thay đổi đó với tôi vẫn luôn tràn ngập những điều mới mẻ, thú vị. Hoặc tận hưởng cuộc sống - như là lúc tôi nằm dài trên thảm cỏ xanh ở nóc thư viện, 9h tối, nhìn nắng chiều vàng óng thấp dần theo từng giây xuyên vào bên trong những tòa nhà kính, và đàn chim vẫy cánh bay đi trên đầu những ngọn cây.  Nếu không quay lại nữa, thì chừng đó năm tháng của tuổi trẻ là quá đủ. Có ngờ nghệch và lơ đãng, có vật vã và rồ dại, có tràn ngập những khiếm khuyết và tiếc nuối, nhưng tất cả đều đã cháy hết, gom hơi ấm đi theo tôi trong suốt cuộc đời. 

23.2.17

Đọc sách xong rồi thì nên cho sách đi

Chiều nay tôi ra Đinh Lễ mua cuốn Enzyme tặng mẹ vì đang đọc thấy hay (và được vợ gợi ý). Cầm sách rồi tôi tần ngần gần tiếng bên trong cửa hàng, giữa những lối đi chật hẹp và những chồng sách cao chất ngất. Toàn sách hay đông tây kim cổ, toàn các tác giả nổi tiếng, trình bày in ấn đẹp, kiến thức văn thơ phong phú kiểu gì cũng có. Ấy vậy mà cuối cùng ra về vẫn chỉ có một cuốn đó trên tay. Cảm giác ... chả có cảm giác gì cả. Ngạc nhiên chưa?

Ngày xưa tôi đã từng lên plan đọc bao nhiêu sách một năm một tháng, tôi cũng trendy nọ kia lắm, đọc review tùm lum rồi lên danh sách to-read to-buy dài ngoằng (mà chả bao giờ hoàn thành được). Lâu lâu mà không đọc sách là sẽ thấy tội lỗi ghê gớm. Rồi mỗi lần vào cửa hàng sách, ít nhiều tôi phải cầm vài ba cuốn đi ra, dù có thể chẳng biết bao giờ sẽ đọc hết. Vui mua, buồn mua, chả vui chả buồn cũng cứ mua. Tâm lí kiểu như này. Rằng sách là một thứ gì đó cao quí, mua sách giống như đầu tư lâu dài cho tâm hồn, trí tuệ nên chẳng bao giờ thiệt đâu, đừng tiếc tiền! Rằng đến như quần áo, đồ ăn uống và bao nhiêu thứ xa xỉ khác mình còn bỏ tiền tiêu nữa là. Rằng cứ mua về để đó, giờ chưa đọc nhưng biết đâu sau này mình sẽ đọc, hoặc vợ / chồng, hoặc bạn bè người thân mình đọc. Rằng sách bầy lên giá nhìn cũng đẹp đấy chứ, rằng nhà phải có nhiều sách thì mới sang. Rằng kinh điển như thế thì cũng nên tàng trữ trong nhà, để con mình sau này lớn lên còn có cái để đọc. Vân vân và vân vân. 

Quả có nhiều nét giống như người mới thoát khỏi nạn đói. Lúc nào cũng muốn tích trữ thóc gạo trong nhà, dù có thể khiến cho gạo bị mốc mọt. Bước vào bữa tiệc buffet thì dù đã no, dù không thích nhưng vẫn cố nhồi nhét vào bụng càng nhiều càng tốt. Thóc gạo còn thế nữa là một thứ như sách, phỏng ạ?

Ngày xưa (hồi lâu lắm rồi chả nhớ) chẳng có sách để đọc nên vớ được cuốn nào đọc ngấu đọc nghiến cuốn đó, bất kể hay dở, bất kể có hợp với tuổi hay không. Rồi giữ sách như giữ vàng. Đóng dấu cho khỏi thất lạc. Còn bây giờ sách có ở khắp nơi, ngay cả những thứ tưởng như được in số lượng hạn chế cũng chỉ là chiêu trò PR của các công ty sách, nếu muốn đều có thể có được, mà chẳng mất quá nhiều tiền. So với những giá trị mà một cuốn sách đem lại thì giá tiền, dù có vẻ đắt, cũng chẳng đáng gì. Đấy là còn chưa kể đến ebook. Thời đại này đâu thiếu thông tin, thiếu sách, thừa nữa là khác; chỉ có là không biết nên đọc cái gì, vào khi nào. Mỗi lần đọc một cuốn sách với tôi khi đó giống như là một mối duyên phận, may mắn tình cờ lắm mới đến được với nhau :)

Do vậy, bây giờ 90% sách trên giá của tôi là không cần thiết nữa. 

Nếu sách hay và đã đọc kỹ rồi thì nhiều khả năng tôi sẽ không đọc lại nữa, ít nhất là trong vài tháng / vài năm tới. Cho nên nó xứng đáng được truyền tay sao cho càng nhiều người đọc càng tốt. Chắc đấy cũng là số phận tốt đẹp nhất của mỗi cuốn sách, thay vì được đọc một lần rồi im lìm nằm mốc meo trên giá. Ngay cả nếu sau này tôi thích nó tới mức muốn đọc lại thì nó cũng xứng đáng được tôi tìm mua mới ở ngoài hiệu sách. 

Nếu sách dở hoặc không hợp với tôi thì nó càng không nên ở trên giá sách của tôi. Nó cần rời đi, hoặc đến được tay ai đó phù hợp hơn.

Còn sách có vẻ hay, sách kinh điển mà tôi chưa đọc thì sao? Nếu nó đã nằm trên giá sách vài tháng, vài năm thì nhiều khả năng nó cứ nằm ở đó mãi, mà chẳng bao giờ được tôi mò đến. Tất nhiên là tôi chả ngớ ngẩn tới mức trưng bày những sách chưa đọc cho đẹp giá sách. Và tôi cũng chẳng muốn giữ lại sách chỉ để cho bạn bè cả năm may ra đến chơi một lần mà nhiều khả năng là chẳng thèm ngó ngàng gì tới chúng. Con cái khi đủ tuổi thì nếu thích đọc nó cũng sẽ tự biết cách tìm được đến nguồn sách để đọc, bố mẹ được đưa tiền cho con mua sách lại chả mừng hết cỡ. 

Vậy đó, từ giờ tôi sẽ cho dần đi những cuốn sách mình đang có. Không bán, vì bán thì sẽ hạn chế số lượng người có thể đọc được mỗi cuốn sách. Mà gọi là "cho" cũng không đúng. Không phải là tôi đang ban ơn cho người kia, đúng là họ không phải trả tiền, nhưng họ cũng giúp tôi có thêm khoảng không trong nhà, giúp tôi nâng thêm giá trị của cuốn sách, và trên hết, kiếm được một người cùng đọc cùng thích một cuốn sách của mình chẳng phải may mắn và thú vị lắm sao!

Chỉ hơi tội cho nhà văn, và NXB. Nhưng liệu có bao nhiêu người đang làm giống tôi nhỉ? Chắc là in ít thôi. Nhà văn chắc cũng muốn tác phẩm của mình tới được nhiều người. NXB thì chắc chắn không vui rồi, tôi cũng chả biết làm sao. Nên chăng mỗi người khi nhận một cuốn sách free thì bỏ ra ít tiền nộp vào quĩ ... xuất bản sách hoặc quĩ ủng hộ nhà văn trẻ chẳng hạn?


Một giá sách đẹp với tôi bây giờ chắc sẽ là một giá sách có nhiều ngăn trống. Ngoài một số rất ít sách giữ lại vì kỉ niệm, vì quá khó để có lại, vì quá ấn tượng, thì sẽ chỉ có cũng rất ít sách đang được đọc và đang chờ được chuyển đi cho người khác. Khi đó, cho tức là nhận, và, less is more, and empty space is beauty + full!

18.1.17

Tuổi gì mà đòi uống trà?

Lâu nay, tức là từ nhỏ cho tới gần đây, tôi vẫn nghĩ việc thưởng trà là của các cụ. Vậy mà kể từ khi nghiêm túc tìm hiểu về trà, tôi chưa gặp bạn trà nào ở ngoài đời mà lại già hơn tôi (tôi mới 17t thôi nha :D). Rồi xem trên youtube hay đọc trên web, lại hay gặp mấy bạn Tây mắt xanh mũi lõ trẻ trung kì dị như rocker nói về trà chứ chả bao giờ thấy một ông cụ tiên phong đạo cốt râu tóc bạc phơ cả. Ví dụ như hai cậu này ở Tea DB, hoặc hai bạn này uống trà Nhật ngon vãi, hoặc già lắm cũng như bạn Akira Hojo chuyên bán trà ngon, ấm đẹp này. 

Lạ chưa? Tại sao lại thế nhỉ? Tại đọc Nguyễn Tuân? Hoặc cũng có thể có liên quan tới hình ảnh các thiền sư uống trà, mà thiền sư thì phải già lụ khụ, nhể? :D Thực ra thì uống trà chắc có liên quan nhiều tới việc giúp cho giữ được tỉnh táo khi ngồi thiền hơn là việc "làm hàng" hay "tạo dáng".

Mà nghĩ kỹ thì cũng ko lạ lắm, rất có lý nữa là khác. Già rồi mà uống trà thì chỉ tổ phí trà thôi! Mắt không nhìn rõ màu nước, màu trà, mũi không ngửi được hương, lưỡi không nếm được vị. Như vậy trà có ngon, có tinh tế thì cũng chỉ như đàn gảy tai trâu. Chưa kể một số loại trà và cách pha đòi hỏi phải có thao tác nhanh và chính xác, mắt mờ tay run lập cập đụng vô thì rơi vỡ khắp nơi, rót xong nước ra khỏi ấm thì trà cũng đã mất ngon rồi. Có lẽ các cụ chỉ phù hợp với kiểu pha trà chát "truyền thống" của VN, tức là cầm cả vốc cho vô ấm, đổ nước nóng tới đâu ko rõ vào, rồi cứ ngâm trong ấm vô thời hạn, lâu lâu lại rót ra làm một chén ...

Đấy là nói về khả năng thưởng trà, vốn không ưu đãi gì tuổi tác. Tiếp theo là tác dụng của uống trà thì người trẻ cũng sẽ có được nhiều lợi ích hơn. Uống trà "nhạt" nhiều không chỉ giúp ... uống trà tốt hơn, mà nó còn cải tạo vị giác nói chung. Có nghĩa là khi đó ăn và uống những món khác đều tinh tế hơn nhiều, tới một mức nào đó còn có thể giúp phân biệt được thực phẩm sạch / bẩn chưa biết chừng. Bên cạnh đó, nhịp sống bận rộn lại cần có trà để cân bằng lại tinh thần và sức khỏe, giúp tăng khả năng tập trung và sáng tạo trong công việc rất nhiều. (Google đi, đừng lười!)

Cuối cùng, để thưởng được trà có cầu kì phức tạp mất thời gian quá không? Nếu bạn có thể tự nấu ăn, tự làm bữa sáng, tự pha cocktail hay tự pha bất cứ thứ đồ uống thời thượng nào khác thì pha một ấm trà đơn giản hơn nhiều. Khi đã có sẵn nước sôi thì tôi không bao giờ mất quá 5 phút để có được ngụm trà đầu tiên (thông thường sẽ chỉ cỡ 1 phút). Hãy thử nhìn bạn này pha Phổ Nhĩ thì biết. Tập trung độc ẩm thì cả tuần trà chỉ mất khoảng 30 phút cho khoảng 4-5 nước, vậy là quá đủ. Còn gặp gỡ bạn bè mà có thêm trà thì thôi không tính thời gian nữa nhỉ, lúc đó uống bao nhiêu trà có khi cũng chả nhớ ;)



Thế đó, nếu bạn đã già rồi thì cũng nên cố thử uống trà nhạt vài lần đi, biết đâu may mắn gặp được thần tiên trên đời. Còn nếu bạn còn trẻ, chưa cằn cỗi hoặc chưa bị mắc kẹt trong định kiến thì hãy sống gấp đi, còn chần chừ gì nữa mà ko ... thưởng trà :P

Theo thông lệ, quote ở cuối bài một đoạn ... rất liên quan  ;)

Tuổi nào ngồi khóc tình đã nghìn thu // Tuổi nào mơ kết mây trong sương mù // Xin chân em qua từng phiến ngà // Xin mây se thêm màu áo lụa // Tuổi nào thôi hết từng tháng năm mong chờ. - TCS

12.1.17

Uống trà ngon sao cho thấy ... ngon?

Tôi đã muốn viết một bài, rằng uống trà không khó. Ý nói là dụng cụ, cách pha sao cho được chén trà ngon trong hầu hết các trường hợp là không khó chút nào. Nhưng để uống được trà ngon mà vẫn thấy ngon (mà không thấy nhạt nhẽo :D) thì lại không đơn giản. Khi đó dù mua đồ xịn, trà xịn, và pha cho đúng, phỏng có ích gì?

Theo thói quen thì từ khi mon men biết thưởng trà, cũng giống như mỗi khi ăn uống được món ngon, tôi muốn kể về trà và muốn mời bạn bè người thân mình tham gia cùng. Tôi đem những loại trà ngon nhất đang có, pha theo cách tôi cho là phù hợp nhất, và mời họ uống. Khỏi nói cũng biết nhiều lúc tôi đã thất bại thảm hại như nào. Hóa ra tôi đã sai lầm khi nghĩ rằng, dù ai có uống trà dở tới đâu, nếu người ấy được một lần uống trà ngon, thì họ sẽ biết và sẽ thay đổi. Vấn đề không đơn giản và rõ ràng như khi đang ở thành phố ô nhiễm ngột ngạt, về quê về núi về biển không khí trong lành là biết liền. 

Việc cảm nhận được cái ngon của trà, được hương vị của nó hóa ra lại phụ thuộc rất nhiều vào bản thân người uống. Với trẻ con (như hai đứa nhà tôi), khi chỉ quen ăn đồ nhạt, quen uống nước trắng, thì việc cảm nhận trà nói riêng và của ngon vật lạ nói chung lại đơn giản hơn rất nhiều. Chả trách người ta hay nói trẻ con khôn mồm. Chỉ vì mồm của chúng chưa bị bao nhiêu loại hóa chất và bao nhiêu thói quen xấu phá hỏng! Cũng tương tự đối với mắt nhìn (trong nhiếp ảnh, hội họa), tai nghe (trong âm nhạc) và cả suy nghĩ. Tới một mức nào đó là người ta sẽ cần tìm lại sự tĩnh tại, trong trẻo, để cho các giác quan cũng như trạng thái tinh thần được hoạt động tốt nhất, sáng tạo nhất. Uống trà cũng thế, nếu không làm sạch và tìm lại được vị giác ban đầu thì khó có thể cảm nhận được cái ngon của trà, chưa nói đến việc phân biệt hương vị, rồi các thứ như body hay aftertaste nọ kia khác.

Việc tìm lại vị giác ban đầu (hay còn gọi là cải tạo vị giác) của mỗi người sẽ một khác, phụ thuộc vào việc vị giác của họ đã bị "hỏng" tới mức nào, định kiến nặng nề tới đâu, phụ thuộc vào sự cởi mở về quan niệm, sẵn sàng thay đổi, sự tìm tòi và khao khát tới đâu của họ nữa.



Vậy tôi đã cải tạo vị giác của mình như thế nào? Chắc là khá may mắn. Đầu tiên, tôi vốn thích nhạt, thích ăn uống những món ít tẩm ướp pha chế. Lâu rồi tôi cũng không dùng những thứ kiểu như nước ngọt đóng chai, cả cà phê (trước khi quay lại với trà) tôi cũng đã hạn chế uống cà phê "đắng" ngoài hàng. Đồ uống ưa thích của tôi là ... nước trắng. Tuy nhiên tôi lại không biết thế nào là "trà ngon" vì ban đầu chẳng có ai pha hay giới thiệu cho. Nhưng tôi lại có tình yêu rất lớn với cuốn "The book of tea" (cả "In praise of shadow" nữa). Tình yêu đó là giúp tôi gần 6 tháng liền uống matcha mỗi buổi sáng. Thời gian đầu tôi chỉ uống matcha loại dùng để chế biến vào đồ ăn / uống, và rót trực tiếp nước sôi nên thú thật nước trà khá là đắng chát. Tôi lại vốn thích đồ đắng nên chẳng vấn đề gì, với lại uống ào một cái thì cũng xong, và sau đó là cảm giác tỉnh táo sảng khoái do cafeine đem lại. Có một lần vợ đem về một hộp matcha nhìn có vẻ xịn, và tôi đã lấy ra pha. Kết quả là thơm nõn nà và ... ngọt hơn nhiều. Trà mà lại ngọt, không phải ngọt đường mà ngọt kiểu cỏ cây xanh mát, wtf! Quả là một "phát hiện" lớn lao! Từ đó tôi đọc thêm (chút xíu thôi) về cách pha matcha để biết rằng không được đổ nước sôi vào trà như thế, và kết quả là trà lại càng thơm ngọt và ngon hơn. Có lẽ đấy cũng là lúc vị giác bắt đầu có thay đổi.

Nhưng matcha, dù có pha đúng cách, vẫn quá đậm và dày so với các loại trà nhúng (matcha được xếp vào loại whipped tea - tức là được nghiền thành bột và khi uống phải dùng chasen đánh tung bọt lên; còn bây giờ chúng ta uống steeped tea - tức là để nguyên lá và nhúng trong nước).

Lần này tôi có được sự giúp đỡ của một người bạn thân lâu ngày. Cả một buổi chiều tại XT, Hưng đã cho tôi biết được cách pha (cụ thể là nhiệt độ và thời gian) ảnh hưởng tới trà như thế nào, đã cho tôi biết sự đa dạng về hương vị (tất nhiên là thơm ngon) của trà tới mức nào. Cũng may là lúc đó vị giác của tôi đã được cải thiện đáng kể, nên dù không trọn vẹn, tôi cũng đã biết được sự kì diệu của trà, biết được thế giới đó phong phú đa dạng tới mức nào. Chén đầu tiên là trà được pha ở nhiệt độ cao, ngâm lâu - vị đắng quen thuộc như bao năm dân ta vẫn quen dùng, nhưng cũng không tệ so với tiêu chuẩn của tôi lúc đó. Tôi nhớ mãi chén thứ hai ngay sau đó, khi mà trà được rót ra gần như ngay lập tức sau khi rót nước nóng vào, một cảm giác thần tiên bay bổng khó tả, hương vị của trà nổi lên, xanh tươi nõn nà, khiến cho tôi phải ví von rằng đó như một cô gái đang xuân so với sự già đắng già chát của chén trà trước. Từ đó tôi đã biết rằng mình sẽ chỉ có đi tiếp con đường này, sâu hơn và rộng hơn, chứ không bao giờ quay trở lại với cách uống trà cũ nữa.

Quá trình cải tạo vị giác được đẩy nhanh lên cùng với sự tăng của tần suất và cường độ uống. Mỗi ngày 2-3 tuần, mỗi tuần trà có khi cả chục nước hoặc hơn (đối với ôlong). Bắt đầu từ trà xanh, rồi tới ôlong Việt (vốn có hương vị khá đậm cho phù hợp với người Việt). Bắt đầu từ kiểu pha bấm giờ (western style) khiến cho ngụm trà dày đậm, cho tới kiểu pha gongfucha làm nổi mùi hương và sự tinh tế của mỗi ngụm trà mỗi lần pha. Vậy mà cũng phải mất thêm chừng 3 tháng nữa thì tôi mới thực sự cảm và thích được những dòng trà "nhạt" (chẳng hạn như ôlong Cao Sơn), tức là có thể nói là gần như đã cải tạo xong. 

Vậy uống trà "nhạt" thì có gì vui? Uống trà đậm trà đắng chát cũng ngon mà? Cái này tôi sẽ nói kỹ hơn trong một bài khác. Ngắn gọn thì trà nhạt giúp cho người uống cảm nhận và thưởng thức được nhiều hương vị, sự cân bằng tương tác bổ sung cho nhau giữa chúng - những thứ mà một ngụm trà đắng chát chẳng bao giờ đem lại được.



Đấy là quá trình "cải tạo" vị giác của tôi. Bạn có thể khác, nhanh hơn hay chậm hơn tùy người (nhưng chắc chắn sẽ ko bị mò mẫm như tôi hồi đầu nữa nhỉ!). Một lời khuyên nho nhỏ là việc chăm uống nước trắng, uống thật chậm để cảm thấy nước trắng ngon, đặc biệt trước khi uống trà, cũng sẽ giúp rút ngắn được thời gian đáng kể. Nhưng nếu bạn đã quen chỉ uống trà đậm trà chát, quen với quan điểm "chặt to kho mặn", "đậm đà" mới ngon, mà lại muốn đột nhiên, mau chóng chỉ sau một hai lần uống đã thưởng được trà (nhạt) chỉ vì trà nổi tiếng, vì người pha (nghe đồn) giỏi, vì có ấm tử sa, vì quán hay chén đẹp thì mong bạn hãy từ bỏ ý định đó đi. Không có đường tắt như vậy đâu, mà sẽ là cả một quá trình lâu dài và ... chẳng gian khổ chút nào (nếu ko muốn nói là enlightening :D) 

Để rồi, sau "cải tạo" vị giác sẽ đến giai đoạn "đào tạo". Cũng giống như việc cảm nhận nghệ thuật, cảm nhận trà khi đi tới một mức nào đó cũng trở thành một thứ acquired taste, mà lại dễ học hơn nhiều so với nghệ thuật. Cứ uống nhiều, cởi mở và trân trọng, rồi sẽ tới lúc thực sự cảm được, chứ không còn nghĩ đoạn quote sau là big words, là nổ, là chém gió tung trời nữa. 

“The first cup moistens my lips and throat, the second cup breaks my loneliness, the third cup searches my barren entrail but to find therein some five thousand volumes of odd ideographs. The fourth cup raises a slight perspiration,—all the wrong of life passes away through my pores. At the fifth cup I am purified; the sixth cup calls me to the realms of the immortals. The seventh cup—ah, but I could take no more! I only feel the breath of cool wind that rises in my sleeves. Where is Horaisan? Let me ride on this sweet breeze and waft away thither.” Excerpt From: Kakuzo Okakura. “The Book of Tea.”

27.12.16

Mọi chuyện bắt đầu như thế nào?

Có một sự kì dị đối với người uống trà (tôi đó :D). Là dường như càng uống nhiều trà thì người ta ít muốn nói, ít muốn viết về trà, vì rằng, nói hay viết, thì chẳng thể đúng, chẳng thể đủ, chẳng thể tinh tế như trà được. Trạng thái tinh thần cũng sẽ trở nên tịch mịch, cô đơn (happily) hơn, không có nhu cầu chia sẻ nữa. Vậy nên chắc tôi phải tranh thủ viết, trước khi mình hết muốn kể về trà :))

Cỡ một năm về trước tôi đọc phải "The book of tea" (còn gọi là "Trà thư"?) của Okakura Kakuzo và đã bị cuốn theo rất nhanh và chìm trong trà suốt từ đó tới giờ. Nếu bạn đã đọc cuốn sách đó, đã yêu thích và đã xúc động vì nó, mà bạn vẫn không uống nổi trà thì tôi nghĩ bạn không cần phải cố làm gì nữa. 

Suốt chừng nửa năm, mỗi sáng, sau khi đánh răng rửa mặt, tôi đun ấm nước trên bếp gas, dọn dẹp bàn sạch sẽ, rồi ngồi xuống ngay ngắn, uống veo cái hết một bát matcha. Cả ngày còn lại không uống thêm trà gì nữa. Đến bây giờ, khi đã uống thêm nhiều loại trà khác, thì tôi vẫn duy trì thói quen đó mỗi khi có đủ matcha. Kể cũng xấu hổ, nửa năm trời uống matcha mà tôi không tìm hiểu chút gì về chanoyu và các thủ tục nghi lễ trong đó (giờ vẫn thế). Nhưng, mỗi sáng thức dậy, tôi luôn tin rằng mình đã đến với trà, ở trạng thái nguyên sơ nhất, trong trẻo và trân trọng nhất, có thể.

Đó là sự khởi đầu. Nhưng tiếp lửa lại là Hưng, một người bạn lâu năm. Nhờ có cậu ấy mà tôi đã quyết tâm mở rộng ra ngoài matcha, và tìm hiểu kỹ lưỡng hơn, nghiêm túc hơn về các loại trà, các cách pha trà khác nhau, qua sách vở, Internet, và thực nghiệm. Cám ơn nhiều! 

Một tháng trời đi nghỉ với gia đình tôi đã pha trà kiểu bấm giờ (western style) nhưng cũng thử nghiệm đủ trò, không có ấm chuyên dụng, chỉ với 2 lạng trà xanh Bạch Hạc đi đâu lấy nước ở đó. Tôi đã biết rằng chúng ta có thể thưởng được trà đơn giản như thế nào.

Giờ nhìn lại tôi cũng không hiểu sao mình có thể kiên trì tận 6 tháng chỉ uống mỗi matcha, kiên trì một tháng uống hoài một loại trà bình dân đến thế. Nhưng có lẽ đó cũng là một sự may mắn, vì cần có thời gian để cải tạo được vị giác bản thân, để từ từ xây dựng một nền móng vững chắc cho mối quan hệ đôi bên. Vì vậy, bây giờ và chắc là còn lâu về sau, dù có thể tôi sẽ uống trà (kiểu) Tàu nhiều hơn, nhưng tôi sẽ luôn mang theo người, những gì cốt lõi nhất, cơ bản nhất trong tinh thần trà đạo của Nhật. Và tất nhiên là cũng luôn dành một sự ưu ái rất lớn cho trà Việt nữa.

Còn giờ thì ...
"Meanwhile, let us have a sip of tea. The afternoon glow is brightening the bamboos, the fountains are bubbling with delight, the soughing of the pines is heard in our kettle. Let us dream of evanescence, and linger in the beautiful foolishness of things."

23.11.16

một buổi chiều cuối thu

Buổi chiều ở nhà ông bà. Trời chưa kịp lạnh, nắng chưa kịp tắt. Ngủ trưa rồi thức dậy được một lúc. Tôi chưa đi làm luôn như mọi khi mà nấn ná ở lại chờ thợ sửa tủ lạnh tới, còn bà thì tranh thủ thêu đợi đến giờ đón cháu.

Tiện tay cầm ổi lên ăn, hết miếng này đến miếng khác. Ổi ngon quá. Lâu rồi tôi mới được ăn quả ổi vừa miệng như vậy: thịt ổi giòn nhưng vẫn đặc, mẹ tôi gọt vỏ nhưng vẫn để lại chút vỏ xanh, vị tươi ngọt lại có lẫn tí chát và tí chua thanh thanh, lại còn có cả mùi thơm đặc trưng của những trái ổi nhỏ chín cây nữa chứ. Nhưng thơm cũng chỉ phảng phất thôi chứ không quá nồng.

- "Ổi mẹ lấy ở đâu mà ngon thế?"
- "Mẹ mua ngoài chợ thôi." Bà trả lời trong khi vẫn cắm cúi thêu.

Hóa ra đâu đó bày bán ở ngoài chợ vẫn còn những trái ổi như vậy. Miễn là người mua đi bộ đủ chậm, lựa đủ kỹ và đủ quen đủ tin với người bán nữa.


Hàng xóm có ai đang tập piano một bản nhạc đỏ quen thuộc mà nhất thời tôi chưa nhớ ra tên.

- "Mẹ thêu gì vậy?"
- "À, mẹ thêu cái tranh này để tặng anh Khánh sắp tới xong nhà mới." Bà vẫn không ngẩng đầu lên, chậm rãi thêu từng đường một. "Chữ Phú này mẹ để lại chưa thêu chữ 'P' vì bố chê nó xấu. Nhưng tự thêu không theo mẫu thì khó phết đấy."
- "Vâng."

À, "Bài ca hy vọng". Tiếng đàn vang lên nhỏ thôi, nhưng ở đây yên tĩnh nên nghe một lúc cũng ra được giai điệu. Ngay lúc này đây tôi chẳng thấy cần "hy vọng" cái gì hết. Tôi đã có đủ.

Một buổi chiều yên ả, nắng không chói chang, gió vẫn chưa về, nhâm nhi miếng ổi ngon, và nghe hơi thở người thân chầm chậm bên cạnh.

28.7.16

về quê

Tôi đang ngồi bên một cái bàn vuông, nhỏ, vừa đủ để hai người ngồi nói chuyện, uống trà, hoặc chẳng làm gì cả. Bên cạnh là một ấm, với trà xanh đem từ HN vào, và được pha bởi nước Hội An. Cả một gian phòng khách chẳng có gì ngoài cái bàn này, và nó được kê ở đúng góc đẹp nhất tiếp giáp với hai ô cửa sổ chiếm gần hết bức tường, nơi mà ai cũng có thể ngồi và dựa lưng ngắm trời ngắm mây vào ban ngày, và ngắm trăng ngắm sao vào ban đêm. Còn hôm nay thì chỉ đơn giản là nhìn cỏ cây ở dưới đất, nghe mưa, và hít thở :-) 



Trước kì nghỉ tôi cứ hóng suốt, và cuối cùng thì cả nhà cũng kéo nhau vào ở được cái villa này của ông ngoại. Mà ở tận hai lần, mỗi lần kéo dài 5-6 ngày :) Tranh thủ lúc khách thuê cũ dọn đi, khách mới chưa tới, cả nhà đang gần như không có đồ đạc gì cả. Về quê ở mà như là một giấc mơ minimalism trở thành hiện thực.

Hành trình "về quê" với riêng tôi thực sự được bắt đầu đâu đó cuối năm 2015. Khi tôi được đọc cuốn "In praise of shadows" để thấy rằng ngược với ánh sáng rực rỡ kia cũng còn cả một thế giới tưởng như chìm trong bóng tối nhưng thực ra cũng rất đáng để sống và khám phá. Để thấy rằng ngược với các giá trị văn minh đáng trân trọng và cần vươn tới của phương Tây kia thì ở đâu đó trong phương Đông vẫn còn thật nhiều điều thú vị cần được tìm lại và giữ gìn. Những điều đó có thể nằm ở một nơi thật là exotic như Nhật, mà cũng có thể nằm ở một số ngóc ngách của một xứ tưởng chừng như mù lòa, mục ruỗng và lai căng như Việt Nam.

Song hành cùng cuốn sách đó là quá trình minimalism / wabi sabi trong cả vật chất và tinh thần của bản thân, và việc từng bước quay trở lại với "thú" uống trà. Mấy cái này hóa ra lại có thể kết hợp với nhau, và bổ sung cho nhau rất tốt. Viết về chúng chắc sẽ mất nhiều giấy mực nên thôi, tôi cứ kể tiếp chuyện về quê nhỉ.

Chuyến về quê đầu tiên mà không phải quê chôn nhau cắt rốn của tôi là chuyến đi công tác ở Nhật 5 ngày. Thời gian ngắn, công việc nhiều, lại tới một nơi như Tokyo nhưng tôi không hề thấy bị ngợp, hay thấy mình cần phải "been there, done that". Về quê mà, người ta đâu cần phải chứng tỏ hay chạy theo một cái gì. Chỉ đơn giản là ăn được gì thì ăn, chơi được gì thì chơi, mua được gì thì mua, gặp ai được ai thì gặp, không thì cũng chẳng sao, chả vội vàng, chả tiếc nuối. Có chăng chỉ là một chút tìm về, một chút khẳng định lại, cho một cảm giác xa xưa mà gần gũi, vậy thôi :-)

Sau chuyến đi Nhật là kỳ nghỉ này: Đà Nẵng, Huế, Hội An. Cũng toàn là quê, dù ở nhiều góc độ và sắc thái khác nhau.

Đà Nẵng là một cảm giác hào sảng, phóng khoáng của một nơi được thiên nhiên ưu đãi với dãy núi cao, với bãi biển dài, với khí hậu tốt; của một thành phố đang là điển hình kinh tế, văn hóa của cả nước. 

Nếu Đà Nẵng là ánh sáng, thì qua phía bên kia đèo Hải Vân lại là bóng tối, là cố đô Huế không có những gì Đà Nẵng có, và có tất cả những gì Đà Nẵng không có. Không nói tới yếu tố "lịch sử" của cá nhân, thì chuyến đi này về Huế, dẫu chỉ có vỏn vẹn 4 ngày 3 đêm, sẽ vẫn là một lần "về quê" đối với tôi. Huế có lẽ là nơi ở VN mà có cảm giác gần với Nhật nhất, nhưng chuyến về quê này vẫn khác với lần đi Nhật. Đi Nhật cũng ít ngày, cũng bận rộn, nhưng vẫn là một cái gì đó bình yên đậm chất thiền. Cũng chạm vào bóng tối, tưởng như lạ lùng nhưng bóng tối thật êm dịu, bao bọc và lan tỏa. Còn đến Huế, tôi như bị hút vào một bóng tối thật sâu, vẫn gần gũi thân quen đấy, mà sao nhiều lúc thấy chơi vơi và da diết ... đi mãi không tới đáy. Có lẽ vì những bán bún bò, quen đấy, mà lại ngon? Vì ngọn rau bạc hà, ăn từ bé đấy, mà về đây cắn một miếng, mùi vị, chao ôi, bút nào tả xiết? Vì màu tím đẹp khó tả trong nắng của hoa súng? Vì những căn nhà cũ, có khi chắp vá, có khi có bình phong, cây cối che chắn, mà vẫn như muốn hút tôi vào? Vì thỉnh thoảng mỗi bước chân đi, mỗi khúc ngoặt trên đường, mỗi đoạn dốc là một loạt những dấu ấn thời gian? Vì dòng sông Hương ẩn mình giữa hai bờ cây xanh um tùm, lặng lẽ len lỏi giữa núi đồi, để rồi bất chợt hiện ra đẹp tê tái trong nắng chiều sắp tắt?


Nếu Đà Nẵng là ánh sáng, Huế là bóng tối thì Hội An là gì đây, đâu đó ở giữa chăng? Tôi không biết. Hội An không có cái vẻ hào sảng phóng khoáng của Đà Nẵng, cũng chẳng tỉ mỉ, tinh tế, thâm trầm như Huế. Nhưng Hội An có một sự pha trộn vừa đủ, của sự thân thiện, cởi mở và khéo léo trong cuộc sống cũng như trong công việc. Nó vừa đủ để khách cảm thấy được chào đón, nhưng không vồn vã quá mức để khách nghĩ mình là một con gà, cũng không quá sâu quá kín để khách cảm thấy xa lạ. Do vậy, tuy biển không bằng Đà Nẵng, di sản chẳng là gì nếu so với Huế, nhưng văn hóa sống mới là thứ khiến Hội An thu hút được nhiều khách đến du lịch. Cũng như là các món ở Hội An, miễn là có nguồn nước ngọt chất lượng cao, thì làm cái gì ăn cũng thấy ngon. Và đây cũng là nơi mình ở nhiều nhất trong thời gian qua, cho tới thời điểm này. Nhưng lý do chính vẫn là ở cái villa này :)

Cái villa này không ở gần biển cũng chẳng gần phố cổ. Nó nằm đúng chỗ uốn của sông Đế Võng, đủ xa hai chỗ kia để mà yên tĩnh, nhưng lại đi đâu cũng tiện. Đường tới biển An Bàng đi dọc theo tuyến đường đạp xe chạy qua những khúc sông với những bãi cỏ xanh mát có trâu tắm, thuyền chờ. Mỗi chiều đi biển về là lại ngắm hoài bầu trời vừa tắt nắng đang lặng lờ soi bóng trên mặt nước. Mới cách đây vài ngày lọ mọ tìm đường quanh nhà thì mới phát hiện ra bến sông gần nhà rất đẹp, có một dải cát đủ để kê bàn ghế uống trà, sáng ngắm bình minh (nếu dậy được sớm) và chiều ngắm hoàng hôn trong lúc thuyền nhà hàng xóm đi vào đi ra với những mẻ lưới buông trên sông. Bữa cơm có tôm tươi, lại thêm trứng tươi (cũng mua của hàng xóm), cùng với nước ngọt, thôi thì thơm ngon chẳng muốn nói nữa :P Dường như càng ở đây lâu thì "khám phá" thêm được nhiều thứ, và càng thấy nó giá trị thì phải?



Vậy mà ngày mai mình đã phải chia tay nó rồi. Rồi ông ngoại sẽ tìm được ai đó cho thuê vài năm, rồi cái villa này lại chất đầy đồ đạc đủ kiểu, rồi năm sau cả nhà sẽ lại phải chen chúc vô trong một cái khách sạn luxury gì đó vài ngày, với một căn phòng bóng bẩy vô hồn để rồi chạy sô ăn cho đủ, ngủ cho khỏe, bơi cho đã, để bù cho đủ số tiền bỏ ra. Nghĩ mà đã thấy xì-trét, chẳng thà cứ ở lại cái máng lợn Bắc Kỳ còn hơn ...


Mưa đã tạnh, không khí mát lạnh. Bước ra cửa nhìn lên trời lại thấy thật nhiều sao. Uống nốt ngụm trà ngọt còn sót lại rồi đi ngủ thôi nhỉ :)

30.12.15

nhà ở quê hay một cái đẹp đang dần biến mất

Cuối năm chắc người ta dễ trở nên sentimental và hoài cổ? Cả ngày hôm nay tôi cứ nghĩ mãi về căn nhà ngày xưa của ông bà ngoại tôi ở quê. Đó là nơi tôi đã sống liên tục trong khoảng 2 năm (từ 3-5 tuổi). Mẹ mới có em bé, bố đi làm xa, tôi lại là cháu đầu của ông bà, nên được về quê sống những ngày đó có lẽ là một điều may mắn của tôi. Nhưng kí ức không còn giữ lại nhiều ngoài những buổi chiều ngóng trông mẹ.

Dù giữ lại nhiều hay ít, hiển nhiên đó vẫn là một nơi gắn bó với tôi từ trong tiềm thức. Cho nên điều dễ hiểu là khi gần đây bác cả ở quê phá căn nhà cũ, mảnh vườn cũ đó đi để xây trên đó một căn nhà thờ hoành tráng thì tôi hụt hẫng vô cùng. Cảm giác đó không như một cú shock ập tới ngay lập tức, mà nó từ từ ngấm vào mỗi lần về quê lễ tết hay dịp giỗ ông giỗ bà. Gian nhà to đẹp, bàn thờ bằng gỗ quí, chắc tốn rất nhiều công sức tiền của, chắc bác tôi thấy tự hào với dân làng lắm lắm, chắc ông bà ở suối vàng cũng rất mát lòng mát dạ trước sự hiếu thảo của con của cháu. Nhưng tôi vẫn hờ hững trước bức tường sơn mới, trước cái sân bóng loáng trơn trượt, trước cả cái sập gỗ to và cái bàn thờ đắt tiền. Tôi nghĩ, chắc là tôi còn níu kéo, còn hoài cổ hơn cả bậc cha chú của mình.

Gần đây đọc xong cuốn In praise of shadows của Tanizaki và đang đọc Wabi-sabi của Leonard Koren, tôi mới nhận ra rằng ngoài cái sự níu kéo và hoài cổ hiển nhiên đó, căn nhà cũ đấy còn có một giá trị văn hóa và vẻ đẹp tự thân của nó mà nhà mới không bao giờ có được.

Một căn nhà nhỏ có ba gian thông nhau ở giữa, cùng với hai gian biệt lập ở hai đầu, vách đất. Nhà được xây mới từ sau trận lụt lịch sử năm 7x nào đó nên cũng không quá thấp, mái được lợp bằng ngói. Nhà quay về hướng Nam. Trước mặt là một sân gạch nho nhỏ mà cứ chiều chiều ông bà lại quét lá, rồi đến hàng cau cũng nho nhỏ, cây có quả cây không. Bên phải sân ở đầu nhà là một cái giếng sâu hun hút rêu bám đầy. Tiếp theo sân là một cái vườn hình vuông có một cây nhãn, một cây mít, một cây hồng xiêm và một đống rơm cứ đầy lên vào mùa gặt và sau đó vơi dần đi; xen kẽ giữa chúng là những luống rau thơm. Lệch sang bên trái là lối đi cũng bằng gạch ra tới cổng. Còn ngoài cùng bên trái, ngay đầu nhà lại là một cây nhãn cổ thụ khác không biết có từ bao giờ, rồi tới dãy chuồng gà ở dưới, chuồng chim bồ câu ở trên, sau đấy lại là một cây cau và bể đựng nước mưa với gáo dừa múc nước, rồi tới cái nhà bếp đối diện với đống rơm, và cái chuồng lợn ở ngay cạnh cổng. Ra khỏi cổng ở bên kia đường là một cái cầu ao có bậc là những tảng đá được che bóng bởi bụi cây tre to đùng ở hai bên. Đi tiếp bên trái qua một mảnh vườn trồng chuối xen kẽ với cây sung, cây ổi sẽ tới một cái toilet cũ phủ ngập lá cây quay mặt ra vườn quay lưng xuống nước, ban ngày thì mát rượi chim kêu vượn hót líu lo, ban đêm thì côn trùng rít inh ỏi tối thui thui sợ chẳng dám bước chân tới.

Trong nhà là hai cái giường ở hai bên, bàn thờ ở giữa, ở trước bàn thờ là bộ bàn ghế cũ. Cửa gỗ nhưng chỉ đến đêm mới đóng, bên ngoài cửa là tấm mành đan bằng nứa che nắng che gió che mưa. Có ba cái mành thì chỉ có một cái ở bên trái được móc lên làm lối đi, còn lại hai cái lúc nào cũng hạ xuống. Do vậy nhà lúc nào cũng hơi tôi tối. Đến đêm, ngay cả khi có điện thì ông cũng chỉ bật có một cái bóng mờ mờ yếu yếu. Hồi đó tôi nghĩ chắc ông muốn tiết kiệm điện, và cũng có thể là như thế. Nhưng quả thật một căn nhà quê kiểu đó sẽ trở nên xấu xí nhợt nhạt vô cùng nếu dùng đèn tuýp bật cho sáng choang lên. Ngay dưới mái tranh gần cái móc có treo một dãy cây cảnh không biết giống gì được trồng trong những cái sọ dừa, trườn lên bám sát và ẩn vào dưới mái. Ai đi qua mà không để ý thì sẽ không nhìn thấy. Hai cái tủ nho nhỏ để hai đầu nhà một cái của ông một cái của bà. Cái đài không biết có từ khi nào, mỗi tối ông bật lên nghe trước khi ngủ. Tôi nằm cạnh ông nghe vẩn nghe vơ, nhìn những vết nứt trên vách đất bên cạnh mà liên tưởng tới ngọn núi, con sông, cái cây hay cả những con quái vật. Trên cột gỗ giữa nhà ở đầu giường cạnh bàn thờ ông có khắc ngày sinh của tôi và của những đứa cháu tiếp theo của ông. Mọi thứ trong nhà đều cũ, nhưng hand-made từ gỗ cây, tre nứa, đất nung; chúng đều gọn, và nhỏ, đến nỗi sau này lớn lên mỗi lần về thăm là một lần tôi lại thấy mình như bị thừa tay thừa chân, mỗi bữa ăn là bà lại trêu thằng cháu ngồi một mình hết nửa mâm cơm rồi lại thở dài không biết có còn sống tới ngày nó lấy vợ ...

Ông tôi chưa bao giờ nói với tôi về kiến trúc nhà, về lối sống, về cái đẹp. Tôi cũng không chắc ông có đọc, có xây dựng cho bản thân một quan điểm, một phong cách sống rõ ràng nào đó, hay là không. Nhưng tôi biết chắc ông sống như tự nhiên nó là thế - mộc mạc, đẹp và hòa với thiên nhiên, giống như bát canh ông làm đãi cháu, đựng vào chiếc bát sứ xanh còn nhỏ hơn bát ăn cơm bây giờ, nhưng thịt ba chỉ, chuối xanh, đậu rán với hành và lá tía tô hòa quyện với nhau trong đó, ăn vào một miếng mà như thấy cả vẻ đẹp của đất trời.  

Sau này khi ông bà mất đi, căn nhà bị bỏ hoang dù thỉnh thoảng vẫn được ông bà là em của ông, của bà ở nhà bên cạnh sang quét dọn thắp hương. Mỗi lần về quê tôi đều ghé về, tần ngần đứng đó rõ lâu, có khi cầm máy lên chụp có khi không. Lần nào tôi cũng bị hút vào - một cái gì như là sự trộn lẫn của kỉ niệm, của tình thương, với cái vẻ đẹp tịch mịch, hài hòa với thiên nhiên, như tan vào thời gian, không gian mà căn nhà đó đem lại. 

Lần gần nhất về ăn giỗ, bác kể chuyện rằng xóm này (xóm Đình, nơi danh giá nhất làng xưa nay) giờ toàn nhà bỏ trống. Các cụ mất đi, con cháu hoặc là "thoát ly" (đi làm ở xa), hoặc là chuyển hết ra ở ngoài đê rồi cụ nào còn thì cũng ra đó ở luôn với con với cháu. Những căn nhà ba gian mái ngói bị bỏ hoang, những sân gạch phủ đầy rêu, những mảnh vườn xơ xác chăng đầy mạng nhện. Thay vào đó người ta chen chúc chui vào những nhà tầng hình ống bê tông cốt thép sơn xanh sơn đỏ đặt san sát nhau quay ra mặt đường. 

Tôi tự hỏi liệu chúng ta có đã cầm vàng mà tự đánh mất nó không? Google "nhà cổ" thì toàn ra tin về những căn biệt thự Pháp cổ cần được phục hồi gìn giữ. Trong khi hàng ngàn những làng quê cũng bình thường như quê tôi với bao nhiêu căn nhà giản dị mà đẹp đến thế lại đang bị chính tay chúng ta, hoặc là phá đi, hoặc là bỏ mặc cho thời gian tàn phá. Còn lại chỉ là một kí ức nhạt nhòa chắc cũng sẽ phai dần theo năm tháng, về một buổi chiều bình thường ở một căn nhà nhỏ bé, với người ông mái tóc bạc phơ đang ngồi đan rổ đầu hè, với bà đang thong thả vừa quét sân vừa rải thóc cho gà cho chim ăn, với một thằng nhóc là tôi đang tha thẩn chơi góc vườn hay ra cổng ngóng mẹ.

23.12.15

in praise of shadows

Những ngày cuối năm, trong khi mọi người đang bận rộn với deadlines, với việc tổng kết hay thu hoạch thành quả một năm thì tôi lại không thể tập trung làm việc, hay nói đúng hơn là không getting things done, không being productive, no result, nothing. Như là sau một năm, hay sau một vài tháng chăm chỉ cần cù, thì đến hẹn lại lên, con người cứ ì ra, giống kiểu lười biếng hay trầm cảm mùa đông vậy.

Thay vào đó, tôi hay la cà quán xá, ngồi im ngắm đất trời chầm chậm chuyển mình và trôi đi trên phố. Ở nhà thì tôi cũng làm những thứ lặt vặt không tên, vứt đi vài thứ không cần thiết, dọn góc này, sửa góc kia, mỗi lúc một xíu. Cuốn Marie Kondo đó xuất hiện cũng đúng lúc, nên mọi thứ trở nên nhẹ nhàng, trơn tru và tự nhiên, như là lẽ ra nó vốn như thế. Nhà cửa không bụp một cái thành thiên đường nhưng dần dần đã lean hơn, ngày qua ngày đã có cảm giác như có thể map ra trong đầu từng món đồ trong nhà, và có thể thì thầm, trân trọng từng món đồ đó. 

Cùng lúc đó, thân xác cũng như được gột rửa. Tôi không còn bị chìm ngập trong mớ bòng bong của những thứ không tên cùng với cảm giác chây ì trầm cảm nữa.

Vẫn chẳng làm gì cả. Đến office làm cho xong những việc tối thiểu nhất, đủ để duy trì cái gọi là "công việc", mau mau chóng chóng, để thời gian còn lại tôi vẫn "đi mây về gió" trong thế giới của mình. Thời gian như dừng lại trong tách trà nhiều dư vị, giữa ly cafe thơm chua đắng mỗi thứ chỉ một chút thôi, đủ hòa vào với nhau mà không cái nào lấn át cái nào cả. Không gian như tan vào bầu trời đùng đục như một bức ảnh tầng tầng lớp lớp các sắc xám đan xen mà không sensor máy ảnh nào lưu được. Rồi chúng như đang chuyển li ti từng bước từ màu xanh non của lá cây trên ngọn tới màu xanh đậm của lá cây phía dưới, rồi lại pha thêm tí đỏ ở rìa, lại ánh thêm tí vàng ở giữa. Một góc nhỏ với ba cây thôi mà như có cả vạn sắc xanh ghép lại với nhau mà không một màu vải, màu sơn nào có thể vẽ nổi. Nắng ánh lên một chút phớt trên đầu rồi tan đi để những làn sương lạnh ùa về rất nhanh trong một buổi chiều cuối năm ngồi đọc In Praise of Shadows giữa tiếng nước chảy róc rách.

Không phải là vô ích, hay trầm cảm. Tôi không _làm_ gì cả, nhưng có lẽ đấy là những "shadows" cần thiết để duy trì sự cân bằng trong cuộc sống của tôi. Sẽ chẳng có thành tựu gì đạt được, chẳng có đồng tiền nào được sinh ra và có lẽ cũng chẳng có ý tưởng khoa học đột phát nào được nhen nhúm. Cuộc sống lâu nay vẫn luôn được promote để chạy theo những giá trị như căn nhà, cái xe, địa vị, chức tước, đồng lương, những kỳ nghỉ, hay tiện nghi này nọ. Đó là những thứ trong suốt, bất biến, rõ ràng và rực rỡ kiểu phương Tây như Tanizaki đề cập tới, hay tôi gộp chung vào phần dương của cuộc sống. Nhưng, như là có dương thì phải có âm, cuộc sống và có lẽ là cả xã hội nữa, cũng cần có những thứ đùng đục, mờ ảo, dễ thay đổi khó nắm bắt và chìm trong bóng tối. Những shadows đó là cần thiết, quan trọng và hơn hết, chúng vẫn đẹp và vẫn đáng để đắm chìm, nhất là trong những ngày này, trong tiết trời này, và ở nơi chốn này, phải không nhỉ? 

6.9.14

Book challenge

Gần đây trên FB có cái book challenge. Không nhảm như cái ice bucket nên tôi cũng thử nghĩ xem có những cuốn sách nào có ảnh hưởng nhất.

Tôi đọc sách rất chập chờn. Có những khoảng thời gian đọc liên tục ngày đêm. Rồi lại cũng có những lúc chẳng đọc gì, cả vài tháng trời.  Đâm ra không có một cái thước đo universal để đánh giá xếp hạng cho mọi cuốn sách, mà có cái gì đó giống như là duyên phận. Nội dung, văn phong của sách nhiều khi không quan trọng bằng thời điểm đọc sách. Giống như những người con gái, vẻ đẹp và sự thông minh nhiều khi không bằng việc đến được với nhau - đúng nơi, đúng lúc.   

"Tuổi thơ dữ dội" - Phùng Quán. Một cuốn sách tôi đọc vào khi đang ở tuổi thơ (đâu đó những năm cuối cấp 1, đầu cấp 2), và nó đã giúp định hình tuổi thơ nhiều biến động (không dám nói là dữ dội, hì). Hay chính vì những biến động trong tuổi thơ đã khiến cho tác phẩm này đi thẳng vào tôi - hào hùng và khốc liệt.

"Thi nhân Việt Nam" - Hoài Thanh. Tôi đọc cuốn này vào những năm giữa và cuối đại học, khi mà không chỉ còn có học và chơi, mà đã bắt đầu chạm vào những góc cạnh của đời, thất vọng nhiều hơn hi vọng, giận dữ nhiều hơn hài lòng. Nhưng cuốn sách lại mở ra một cái nhìn tinh tế, bao dung, và rộng mở đối với cái đẹp trong nghệ thuật nói riêng và cuộc sống nói chung.

"Thương nhớ mười hai" - Vũ Bằng. Đọc sau cuốn "Thi nhân Việt Nam", khi đang sống trong mối tình đầu, và những nỗi nhớ giữa hai miền Nam Bắc. Không cần phải nói thêm nữa nhỉ ;-)

"Nỗi buồn chiến tranh" - Bảo Ninh. Lại là vật vã đâu đó giữa những mối tình, chênh vênh giữa thời gian, khoảng cách và những gì thuộc về identity, xung đột, reborn, và trưởng thành. Do vậy không có gì ngạc nhiên khi tôi đọc vèo phát xong cả cuốn chỉ trong một chuyến bay, và chìm đắm trong đó ... Có một cái post lâu lâu rồi về nó, giờ cũng coi như là gió, bay đi.

"Unbearable lightness of being" - Milan Kundera (đọc bản tiếng Anh nên để title như thế). Cũng lại bắt đầu đọc trên một chuyến bay ngắn, và kết thúc trong những ngày ở Prague. Giờ không còn nhớ nội dung nó như thế nào, nhưng cái "lightness" của nó thì quả là rất hợp với tôi những ngày tháng đó. 

"Crime and punishment" - Fyodor Dostoyevsky. Rất nhiều sự tương đồng trong suy nghĩ, cảm nhận, lối sống và cả những khi lên đồng với Raskolnikov. Tuy chưa phạm phải crime nghiêm trọng tới mức của chàng, nhưng sự vật lộn đó là rất thật và rất gần với tôi, đặc biệt là những năm ở bển.

"A song of ice and fire" - GRRM. Nếu không đọc bộ truyện này thì chắc tôi sẽ thay vào đó Harry Potter hoặc bộ truyện chưởng nào đó của Kim Dung. Rất tuyệt về tình tiết truyện, chiều sâu, sự đa dạng và thay đổi trong tính cách nhân vật. Chỉ dành cho những người đủ trưởng thành :-) Truyện đọc dễ nhưng văn phong có nhiều đoạn rất hay, trí tưởng tượng mạnh mẽ đến nao lòng.

"Catch-22" - Joseph Heller. Thật hiếm có truyện nào lại dở khóc dở cười trong cả nội dung truyện lẫn cả khi đọc như cuốn này. Đọc nhiều đoạn khoai quá, tra từ, vật lộn mãi mới hiểu. Văn phong củ chuối tức anh ách. Khi đã trôi được vào, thì bị cuốn ngay vào trong vòng xoáy của truyện. Vừa tức vừa buồn cười. Phi lý nhưng lại vô cùng hợp lý. Điên khùng nhất, vật vã nhất, nhưng cũng lại là nhân bản nhất. 

"1984" - George Orwell. Một tác phẩm nên đọc đối với bất cứ ai đã và đang sống trong thiên đường XHCN. Nó vừa nêu bật được bản chất, lại vừa mang tính tiên tri về xã hội mà chúng ta đang sống. Viết năm 194x, về một nơi vào năm 1984, thế nhưng đến giờ vẫn giữ nguyên giá trị ... Không chỉ thế, bên trong đó là một chuyện tình đẹp và buồn khôn xiết.

"Notes from the underground" - Fyodor Dostoyevsky. Nếu có thể vote cho những đoạn văn kinh điển nhất trong văn học thì tôi sẽ chọn tác phẩm này. Đoạn tự lảm nhảm của nhân vật chính phải nói là ... quỷ khốc thần sầu, vô tiền khoáng hậu. Vô cùng chuối, nhưng lại chính xác và hợp lí đến tận cùng! Oa oa ;-)

Thỉnh thoảng cũng có cuốn định cho vào nhưng thôi. Ví dụ như "Tâm lí học đám đông" - Le Bon, một cuốn non-fiction được đọc khi mới trở về sau 6 năm lưu lạc ở bển, đúng khi VN đang lên cơn cuồng buôn chứng và buôn bất động sản. Một tác phẩm hay, nhưng gì thì gì, nó không bao giờ để lại dấu ấn mạnh như fiction. Đọc non-fiction tôi giống như một người đang được chia sẻ, và cùng quan sát, trao đổi và kết luận cùng tác giả. Nhưng đọc fiction, tôi giống như hóa thân để sống cùng với truyện, với nhân vật - một trải nghiệm immense và intense mà non-fiction ko sánh được. Ngoài ra còn một số truyện tôi ước giá mà mình đọc sớm hơn thì có lẽ nó đã có ảnh hưởng lớn hơn, ví dụ như "Catcher in the rye" hay "The fountainhead". Và cả "Lord of the rings" nữa chứ, to read or not to read, and on which seventeens of mine?

13.4.14

thư giãn cuối tuần

Cuối tuần về nhà ông bà. Ăn tối xong cả nhà dắt díu nhau đi bộ ra ngoài phố rồi ghé quán cafe nghe nhạc. Cả nhà ở đây là bao gồm bố mẹ, hai thằng, và bà nội. Ngạc nhiên chưa! Từ Đền Lừ về nhà ông bà mà cứ như là từ núi quay về thành phố vậy, buồn cười nhỉ :-)

Ban ngày thì bước vài bước là xuống dưới sân. Trẻ con tha hồ chạy nhảy. Gặp ai cũng ít nhiều biết được là ở nhà ai. Sân của cả khu tập thể mà cũng có thể coi là của riêng từng nhà.

Ra ngoài ngõ là tới chợ, và tới rất nhiều hàng quán và các dịch vụ khác.

Bảo sao lúc nào về nhà ông bà cũng thích, cũng thoải mái. Đấy là còn chưa kể chừng ấy năm tôi sống ở đây ...

Đêm xuống, bọn trẻ ngủ. Mọi thứ trở nên yên tĩnh lạ thường. Ngõ cụt, đường cụt nên gần như không nghe được một chút nào tiếng xe cộ, tiếng rao đêm. Có chăng chỉ còn tiếng kim đồng hồ chạy, tích tắc tích tắc, từng tiếng, từng tiếng, rất nhỏ ...

8.4.14

những ngày đẹp trời

Mấy ngày này Hà Nội dịu dàng quá, dịu dàng đến siêu thực. Khiến người ta có thể chầm chậm lượn phố và nhấm nháp cafe cả ngày, quên đi bao nhiêu thứ bon chen và ngột ngạt của cuộc sống.

Buổi sáng trời mờ mờ vì mặt trời ngái ngủ chứ không đục vì khói bụi, không khí lành lạnh và khô chứ không dầm dề ẩm ướt. Đi đường chỉ phải mặc thêm chiếc áo khoác mỏng. Dựng xe, ghé vỉa hè, làm một ly cafe đen đá hay một chén trà nóng, và thong thả ngồi ngắm loa kèn đi qua phố. 

Đến trưa, nắng chỉ hửng lên một chút rồi ý tứ lánh đi trước khi người kịp thấy oi bức. Từ trong căn nhà cũ kiểu Pháp của một quán cafe trên phố nhìn qua cửa sổ ra ngoài là một cái cây non có thân thẳng và lá tỏa ra hai bên: rộng ở dưới và thu hẹp dần ở trên, nhìn như một cây thông. Khác ở chỗ là lá xanh nõn nà, chiếc nào ra chiếc nấy, dài và rộng. Nắng nghiêng trên những chiếc lá rồi phản chiếu lại với những góc khác nhau, khiến cả cái cây như tỏa sáng, vừa xanh mướt lại vừa vàng rực trên nền đằng sau là một bức tường cũ kĩ ẩm mốc. 

Buổi chiều, mọi thứ lại như quay ngược trở dần về buổi sáng. Trời tối dần, gió lạnh dần, mặt trời không thấy đâu mà chỉ còn sót lại vài vệt sáng lấp lánh phản chiếu trên mặt hồ. Ngồi cafe ở một quán ven hồ Tây mà nhìn ra thì sẽ thấy gần như mọi sắc độ xám trong khoảng không bao la chỉ có trời, mây và nước. Càng về chiều trời tối càng nhanh, nhìn kỹ thì sẽ cảm nhận được sự thay đổi tuy nhỏ nhưng liên tục trong bức tranh của những mức xám đó, mà không một máy ảnh hiện đại nào có thể ghi được.

Đêm xuống, ở nhà, chui trong phòng, đắp chiếc chăn nhẹ lên nửa dưới người. Quay sang con đang ngủ, giụi giụi vào nó, hít hít ngửi ngửi lấy mùi thơm nồng nàn và tan đi vào giấc ngủ khi nào không biết.

5.4.14

Bạn bè và thói quen

Tôi có một nhóm bạn, học cùng khóa hồi đại học, chơi chung với nhau trong một đội bóng, chinh chiến khắp nơi suốt 5 năm trời. Trong nhóm, đứa này đứa kia có thể có những mối quan hệ khác, ví dụ như học tiếng Anh cùng, làm đồ án cùng, kưa gái cùng, đi chơi (ngày đó chưa gọi là phượt) cùng, v.v. nhưng sự kết dính chính vẫn là các trận bóng. Con trai mà, chơi với nhau qua sở thích, nhất là thứ sở thích tập thể như bóng đá. Ra trường 5 năm, 10 năm, 15 năm. Dần dần những lần tụ tập ít đi, những trận bóng tính theo đơn vị từ vài giờ (hồi đang học), đến vài tháng và vài năm.

Bây giờ đá bóng thường xuyên chắc được một thằng. Còn lại, phần lớn đã chuyển sang chơi tennis, một thằng đạp xe. Tôi thì bơi. Ngay cả xem bóng đá với tôi giờ cũng chỉ còn là một phần rất nhỏ, lâu lâu xem một ít, mà phải là trận nào thật đinh, cả mùa được cỡ khoảng 5 trận trực tiếp, còn ít hơn cả xem tennis.

Mới hôm qua, hay là hôm kia, chả nhớ, một thằng đứng ra kêu gọi và hẹn cả đội bóng làm một trận vào cuối tuần này. Tôi gật đầu ngay, mừng lắm, vì nhiều khi cứ ráo lên là khi nào phải làm một trận, nhưng rồi chẳng có thằng nào take the initiative nên mãi rồi vẫn thế. Chẳng biết có đủ sức chạy được bao nhiêu. Who cares! Được gặp bạn cũ, được chơi với nhau, được chửi mắng nhau, vậy là sướng rồi!

Nhưng nghĩ tới màn nhậu nhẹt và karaoke sau đó thì tôi lại thấy ớn. Thói quen gặp mặt, vốn đã được xác lập từ rất lâu, là đá bóng rã rời, sau đó nhậu (uống bia) và chém gió tóe khói, tiếp theo sẽ là karaoke. Nhưng đó là thói quen, là sở thích của ngày xưa. Giờ tôi ngán màn uống bia đến quên trời đất, để rồi những thứ còn lại chỉ là một sự kéo dài thời gian (câu giờ) theo quán tính. Sao không thể đá xong thì nghỉ ngơi đâu đó, ăn một chút, uống một chút, để thời gian còn lại nói chuyện với nhau? Nhưng biết nói chuyện gì? Thực ra, nếu không trốn vào trong rượu bia và karaoke thì chẳng còn gì để nói. Thật không? 

Đá bóng là phụ, gặp nhau là chính. Nhưng gặp nhau xong rồi thì sao nữa nhỉ? 

Như hai lần họp lớp cấp 2 vừa rồi: gặp nhau thì vui, có nhiều chuyện để nói, để hỏi. Xin contact, chụp ảnh chung, rồi hẹn hò thật nhiều. Nhưng xong rồi thì ai nấy lại trở về với cuộc sống của mình, mà gần như không có sự thay đổi gì cả. Ở cùng nhau trong một thành phố nhỏ xíu như này, thật lạ làm sao mà con đường của chúng ta gần như chẳng bao giờ giao nhau ngoài những lần họp lớp?

Để rồi xem!


Mà sao tôi lắm chuyện thế. Just have some fun, that's all! Đúng là viết blog theo đơn đặt hàng (của chính tôi) có khác, câu kéo ghê!

27.3.14

một mình với đêm

Đi làm cả ngày mệt lả, trước khi về nhà ghé đi bơi một chầu rã rời. Vậy mà đêm xuống, con ngủ rồi sao tôi vẫn cứ nấn ná ngồi lại đây - dù chẳng biết, hay đúng hơn là chẳng muốn làm gì cả. Tôi thích ngồi một mình ở cái bàn này. Ngay trước mắt là mấy miếng bánh ... bánh gì đó vợ làm ăn ngầy ngậy mà không ngấy. Trà Ahmad mọi khi uống cũng được nhưng giờ thì thấy hơi nhạt, hay tại English breakfast chỉ thích hợp cho buổi sáng? Chắc là để lát nữa ngủ cho dễ, nhỉ.

Phía trên đầu là một bóng đèn nằm trong một cái chụp như cái nơm vậy, công suất nhỏ, ánh sáng vàng nên rất dịu. Không khí hơi mát mát nhưng không còn quá ẩm như thời gian vài tháng qua. Tất cả sẽ là lí tưởng nếu không có mấy con muỗi vo ve đốt chân. Tiên sư con muỗi! :P

Lọ hoa loa kèn chiếm gần nửa bàn bên phải. Lần này vợ mua vừa đủ và cắm khá cân đối chứ không tóe loe như mọi khi. Lúc tối có nói rằng hoa loa kèn có một cái vẻ gì rất riêng, gọi là majestic thì phải, ở đâu cũng thế, không quá rực rỡ nhưng không ai là không biết được sự có mặt của nó, dù là một chùm to đùng đặt giữa phòng hay chỉ một vài nhánh nhỏ đặt góc bàn. Hoa loa kèn chỉ nên cắm một mình chứ không nên pha trộn với những thứ khác, tất nhiên rồi :-)

Cả ngày gặp toàn người với người. Còn đêm về chẳng thấy người đâu, ngoài những tiếng rao đêm thỉnh thoảng vang lên - ví dụ như bánh khúc đây, bánh khúc nóng đây. Chỉ có côn trùng kêu rả rích liên tục tạo nên một bức phông âm thanh phủ lên tất cả. Đêm như là một người bạn thân thiết, xuất hiện rất đúng lúc để bao bọc, vỗ về. Sướng! Đâm ra mãi tôi chẳng chịu vào phòng ngủ và chẳng chịu nằm xuống đệm, mỉm cười với vợ với con đang say giấc, và rồi nhắm mắt chìm vào ... lén lút với đêm.

19.3.14

vật vã

Cuộc sống hàng ngày của mỗi người, dù consciously hay subconsciously, đều được duy trì nhờ sự cân bằng của nhiều yếu tố như ăn, ngủ, đụ, ị; hay lãng mạn hơn, cao cấp hơn là gia đình, công việc, thú vui, v.v. Ở bển, nhịp sống chỉ đơn giản là: tập trung làm việc (tối đa 5 ngày / 1 tuần, và tối đa 8h / 1 ngày), xong thì về nhà nghỉ ngơi, sinh hoạt với gia đình. Cuối tuần cả nhà có thể đi dạo phố / outdoor / sinh hoạt văn hoá nghệ thuật, đến những kỳ holiday và vacation (mỗi năm dăm bảy đợt) thì sẽ nhảy tót đi đâu đó thật xa để xả hơi, phè phỡn và trải nghiệm thế giới khác. Ăn uống không lo bẩn, mặc không lo đồ giả, ra đường không lo bị tai nạn giao thông, hít thở không lo đeo khẩu trang, con đi học bố mẹ không lo gì cả. Cuộc sống cứ trôi đi qua các mốc thời gian, các mốc giá trị gần như cố định như vậy. Có vẻ như là nhàm chán nhưng không hẳn, bởi vì, những cái mốc cố định đó giống như là các cái neo, cái cột, để con người, hay phần lớn con người, vẫn chỉ là con người mà chưa tới mức thần thánh, có thể yên tâm dựa vào, để tự do sáng tạo, hưởng thụ và làm giàu cho cuộc sống của họ, tất nhiên là cả về vật chất lẫn tinh thần. 

Nhưng Việt Nam thì không được như vậy. (Đã về VN được bao nhiêu năm rồi mà tôi vẫn có nhưng cái reflection, comparison kiểu này - buồn cười nhỉ!) Dù không muốn nhưng rồi con người vẫn bị cuốn đi, quay cuồng giữa quá nhiều thứ.

Nghề giảng viên đại học phải nói là khá chủ động về cả thời gian và công việc so với phần lớn các nghề khác. Nhưng trong khi ở nước ngoài một giáo sư một năm dạy một hai môn, mỗi môn chỉ có một lớp, thì ở Việt Nam, mỗi người dạy khoảng 3-4 môn hoặc nhiều hơn, mỗi môn phải dạy 3-4 lớp hoặc nhiều hơn, mỗi lớp sĩ số trên dưới một trăm, còn chưa kể những hệ đào tạo khác (cao đẳng, tại chức, v.v.) Mà được như vậy là phải mừng, vì ít ra còn được dạy, còn có thêm tiền vượt giờ nọ kia (tuy còn xa mới gọi là đủ so với nhu cầu!), vì có bao nhiêu trường mở ra, ngành nghề đủ kiểu mà không có sinh viên. Nhưng cả một tuần cứ hết lớp này đến lớp khác, một bài giảng mà cứ bị bật băng tua đi tua lại mãi. Buổi sáng đi dạy, buổi trưa nhảy tót về nhà ông bà ăn vội vài bát cơm, làm một ngụm nước, rồi lại nhảy tót lên trường đứng lớp. Xong lớp này lại tới lớp kia, xong buổi này lại tới buổi khác, ngày qua ngày, tháng qua tháng. Không còn thời gian, sức lực và cảm hứng để tự mình nghiên cứu khoa học hoặc để hướng dẫn sv theo đuổi những đề tài chuyên sâu. Tất nhiên, vẫn còn sự chủ động về thời gian và công việc của nghề, nhưng khi đạt tới một mức nào đó, ở một vị trí nào đó, thì trách nhiệm và sự ràng buộc lẫn nhau không cho phép người ta tuỳ ý lúc nào muốn rũ bỏ đi cũng được. Để cuối cùng sẽ lại buông xuôi, cho những lớp học, dự án, giáo trình, đề tài và sinh viên sai khiến. 

Cuộc sống gia đình còn phức tạp hơn. Không đơn giản chỉ là làm xong rồi về lại ngôi nhà ấm cúng, rồi ăn bữa tối ngon lành, rồi cả nhà quây quần sinh hoạt trong yêu thương, rồi sau đó đi ngủ và có những giấc mơ đẹp. Con cái ở tuổi này (và chắc tuổi nào cũng rứa) cần được bố mẹ dành cho thời gian, rất nhiều thời gian. Trẻ con không cần tiền, không cần ngay cả những thứ dễ gây nghiện như đồ chơi, đồ ăn, TV, quảng cáo, hoạt hình. Tất cả không bằng việc bố mẹ có thời gian để chơi, để sống với chúng. Mà thời gian lại là thứ mà bố mẹ dường như lúc nào cũng thiếu - nào là công việc chưa xong đem về nhà / làm tại nhà, nào là cơm nước giặt giũ quét dọn nhà cửa (giờ đã có oshin thay thế, may sao?), nào là những thú vui và những giấc mơ dang dở, nào là facebook, nào là ti tỉ những lo toan: rau thì lo kiếm chỗ nào mua cho sạch, lợn thì phải lo tìm mua ở quê nào, bò thì lo đắt, gà thì lo bị cúm H-mấy-N-mấy, nước uống thì lo đục ngầu toàn sắt và những thành phần độc hại khác, ra ngoài thì lo tai nạn giao thông lo không khí ô nhiễm bụi bặm ngột ngạt, đưa con tới trường thì lo ăn phải đồ ăn uống lởm lo cô giáo đánh đập hoặc bật TV suốt ngày, đi ngủ thì lo con cái ra quá nhiều mồ hôi rồi bị cảm lạnh, lo xăng lo điện lo nước liên tục tăng giá, lo thời tiết dở hơi gió chướng sương độc.  

Mà thời tiết dở hơi thật, trời nồm cứ dầm dề nhớp nháp mãi không biết khi nào mới hết. Người thì cả nhà - bố mẹ con cái - lũ lượt đau ốm, hết đợt này đến đợt khác. Sàn nhà đi lúc nào cũng dính dính, tường loang lổ, tủ sách mốc xanh hết cả. Lòng người cũng mốc meo, bố mẹ xì-trét muốn trốn đi đâu thật xa, con cũng xì-trét lúc nào cũng lăm lăm xỏ giày phi ra ngoài cửa. 

Túm lại là tất cả cứ xoắn tít, rối tung rối mù hết cả lên. Gọi là như sống trên roller coaster cũng chưa đủ. Vì roller coaster dù sao vẫn có đường đi cố định, còn ở Việt Nam, trong thời đại hỗn mang đầy những giả dối và những giá trị đảo lộn, thời đại của thánh thần tràn ngập bốn phương nhưng lại chẳng có cái neo nào cố định, con người chỉ như những hạt Brown chuyển động không phương hướng, không bến bờ.

Vậy thì lời giải nào đây? Các tác phẩm văn học, các bài hát, hay những bất kỳ những thứ motivational / inspiration shits khác sẽ thường khuyến khích người ta make a break, make an u turn or smt like that. Nào là bỏ tất cả mọi thứ đi vòng quanh thế giới một vài năm. Nào là sống một vài tháng một mình ở ... Tây Tạng, Bali hay vùng Florence nào đó. Hay gần hơn là bỏ việc đi xuyên Việt xuyên Đông Nam Á, blah blah blah. Rồi trong thời gian đó sẽ có điều gì đó exceptional xảy ra, để rồi, thật thần kỳ và may mắn, cuộc sống của họ thay đổi hoàn toàn. Rồi khi trở về với cuộc sống hàng ngày thì đột nhiên tất cả các vấn đề ngày xưa của họ biến mất, một lần và mãi mãi! 

Tôi thì không tin vào những thứ cổ tích thần tiên siêu anh hùng này nọ như vậy. Tôi tin vào nỗ lực của từng cá nhân, từng ngày từng thứ một - liên tục đi tìm và duy trì trạng thái cân bằng động, liên tục đưa ra những hiệu chỉnh nho nhỏ để ngày mai bớt gặp phải những cái khó chịu của ngày hôm nay, để tuần sau đỡ quay tít như tuần này, tối bớt phải ngồi ôm máy tự kỷ một góc lúc nửa đêm để thiếp đi vì quá mệt mà thay vào đó là ôm vợ ôm con đi ngủ với một nụ cười an lành trên môi. Ví dụ như hôm nay tôi cho sinh viên nghỉ một buổi, còn lát nữa về tôi sẽ mua vài lon bia tặng mình và một bó hoa tặng vợ, nhỉ ;-) Quên chưa kể là một việc quan trọng không kém là sáng nay đã cho thằng lớn về nhà ông bà rồi, phù phù. Còn xa hơn, cuối tuần sau, hay cuối tuần sau nữa, chúng tôi sẽ dắt díu nhau đi chơi, Mai Châu nhỉ? Vé máy bay đi nghỉ hè, tất nhiên, cũng vừa mới mua xong. 

11.3.14

Why cafe not just on friday?

- Tại sao lại là fridaycafe?
- Vì lịch sử nó như thế :-) Một cái nickname gắn liền với những ngày tháng (đã không còn gần nữa) của chụp ảnh, chụp ảnh và chụp ảnh. Tên miền fridaycafe.com vẫn còn, tôi chẳng biết là sẽ duy trì nó đến khi nào.

- Tại sao lại "cafe not just on friday"?
- Nghĩa đen: Mặc dù ngày xưa tôi rất ít dùng cafe, kể cả hồi ở bển, nhưng giờ thì ngày nào tôi cũng phải làm một choác vào buổi sáng. Không có là y rằng vài tiếng sau tôi sẽ lờ đờ vật vã, không đủ tập trung để làm bất cứ việc gì được. Vẫn biết nghiện như thế là không tốt nhưng không như vậy thì khó có thể chạy kịp với nhịp độ công việc và cuộc sống hiện nay. Còn nghĩa bóng, giữa một xã hội luôn hối hả, hỗn loạn, nhiễu nhương với giá trị đảo lộn như ở VN bây giờ, với tôi, không gì cần hơn là giữ được một cái đầu, một lối sống trong "tỉnh thức"; và để "thức" được thì còn gì tốt hơn "cafe", nhỉ :P

- Tại sao lại bắt đầu viết lại blog? Tại sao x tại sao y tại sao z?
- Vì tôi thích thế! :D (và rút kinh nghiệm, không hứa hẹn không resolution này nọ nữa!)

Happy blogging!