28.7.16

về quê

Tôi đang ngồi bên một cái bàn vuông, nhỏ, vừa đủ để hai người ngồi nói chuyện, uống trà, hoặc chẳng làm gì cả. Bên cạnh là một ấm, với trà xanh đem từ HN vào, và được pha bởi nước Hội An. Cả một gian phòng khách chẳng có gì ngoài cái bàn này, và nó được kê ở đúng góc đẹp nhất tiếp giáp với hai ô cửa sổ chiếm gần hết bức tường, nơi mà ai cũng có thể ngồi và dựa lưng ngắm trời ngắm mây vào ban ngày, và ngắm trăng ngắm sao vào ban đêm. Còn hôm nay thì chỉ đơn giản là nhìn cỏ cây ở dưới đất, nghe mưa, và hít thở :-) 



Trước kì nghỉ tôi cứ hóng suốt, và cuối cùng thì cả nhà cũng kéo nhau vào ở được cái villa này của ông ngoại. Mà ở tận hai lần, mỗi lần kéo dài 5-6 ngày :) Tranh thủ lúc khách thuê cũ dọn đi, khách mới chưa tới, cả nhà đang gần như không có đồ đạc gì cả. Về quê ở mà như là một giấc mơ minimalism trở thành hiện thực.

Hành trình "về quê" với riêng tôi thực sự được bắt đầu đâu đó cuối năm 2015. Khi tôi được đọc cuốn "In praise of shadows" để thấy rằng ngược với ánh sáng rực rỡ kia cũng còn cả một thế giới tưởng như chìm trong bóng tối nhưng thực ra cũng rất đáng để sống và khám phá. Để thấy rằng ngược với các giá trị văn minh đáng trân trọng và cần vươn tới của phương Tây kia thì ở đâu đó trong phương Đông vẫn còn thật nhiều điều thú vị cần được tìm lại và giữ gìn. Những điều đó có thể nằm ở một nơi thật là exotic như Nhật, mà cũng có thể nằm ở một số ngóc ngách của một xứ tưởng chừng như mù lòa, mục ruỗng và lai căng như Việt Nam.

Song hành cùng cuốn sách đó là quá trình minimalism / wabi sabi trong cả vật chất và tinh thần của bản thân, và việc từng bước quay trở lại với "thú" uống trà. Mấy cái này hóa ra lại có thể kết hợp với nhau, và bổ sung cho nhau rất tốt. Viết về chúng chắc sẽ mất nhiều giấy mực nên thôi, tôi cứ kể tiếp chuyện về quê nhỉ.

Chuyến về quê đầu tiên mà không phải quê chôn nhau cắt rốn của tôi là chuyến đi công tác ở Nhật 5 ngày. Thời gian ngắn, công việc nhiều, lại tới một nơi như Tokyo nhưng tôi không hề thấy bị ngợp, hay thấy mình cần phải "been there, done that". Về quê mà, người ta đâu cần phải chứng tỏ hay chạy theo một cái gì. Chỉ đơn giản là ăn được gì thì ăn, chơi được gì thì chơi, mua được gì thì mua, gặp ai được ai thì gặp, không thì cũng chẳng sao, chả vội vàng, chả tiếc nuối. Có chăng chỉ là một chút tìm về, một chút khẳng định lại, cho một cảm giác xa xưa mà gần gũi, vậy thôi :-)

Sau chuyến đi Nhật là kỳ nghỉ này: Đà Nẵng, Huế, Hội An. Cũng toàn là quê, dù ở nhiều góc độ và sắc thái khác nhau.

Đà Nẵng là một cảm giác hào sảng, phóng khoáng của một nơi được thiên nhiên ưu đãi với dãy núi cao, với bãi biển dài, với khí hậu tốt; của một thành phố đang là điển hình kinh tế, văn hóa của cả nước. 

Nếu Đà Nẵng là ánh sáng, thì qua phía bên kia đèo Hải Vân lại là bóng tối, là cố đô Huế không có những gì Đà Nẵng có, và có tất cả những gì Đà Nẵng không có. Không nói tới yếu tố "lịch sử" của cá nhân, thì chuyến đi này về Huế, dẫu chỉ có vỏn vẹn 4 ngày 3 đêm, sẽ vẫn là một lần "về quê" đối với tôi. Huế có lẽ là nơi ở VN mà có cảm giác gần với Nhật nhất, nhưng chuyến về quê này vẫn khác với lần đi Nhật. Đi Nhật cũng ít ngày, cũng bận rộn, nhưng vẫn là một cái gì đó bình yên đậm chất thiền. Cũng chạm vào bóng tối, tưởng như lạ lùng nhưng bóng tối thật êm dịu, bao bọc và lan tỏa. Còn đến Huế, tôi như bị hút vào một bóng tối thật sâu, vẫn gần gũi thân quen đấy, mà sao nhiều lúc thấy chơi vơi và da diết ... đi mãi không tới đáy. Có lẽ vì những bán bún bò, quen đấy, mà lại ngon? Vì ngọn rau bạc hà, ăn từ bé đấy, mà về đây cắn một miếng, mùi vị, chao ôi, bút nào tả xiết? Vì màu tím đẹp khó tả trong nắng của hoa súng? Vì những căn nhà cũ, có khi chắp vá, có khi có bình phong, cây cối che chắn, mà vẫn như muốn hút tôi vào? Vì thỉnh thoảng mỗi bước chân đi, mỗi khúc ngoặt trên đường, mỗi đoạn dốc là một loạt những dấu ấn thời gian? Vì dòng sông Hương ẩn mình giữa hai bờ cây xanh um tùm, lặng lẽ len lỏi giữa núi đồi, để rồi bất chợt hiện ra đẹp tê tái trong nắng chiều sắp tắt?


Nếu Đà Nẵng là ánh sáng, Huế là bóng tối thì Hội An là gì đây, đâu đó ở giữa chăng? Tôi không biết. Hội An không có cái vẻ hào sảng phóng khoáng của Đà Nẵng, cũng chẳng tỉ mỉ, tinh tế, thâm trầm như Huế. Nhưng Hội An có một sự pha trộn vừa đủ, của sự thân thiện, cởi mở và khéo léo trong cuộc sống cũng như trong công việc. Nó vừa đủ để khách cảm thấy được chào đón, nhưng không vồn vã quá mức để khách nghĩ mình là một con gà, cũng không quá sâu quá kín để khách cảm thấy xa lạ. Do vậy, tuy biển không bằng Đà Nẵng, di sản chẳng là gì nếu so với Huế, nhưng văn hóa sống mới là thứ khiến Hội An thu hút được nhiều khách đến du lịch. Cũng như là các món ở Hội An, miễn là có nguồn nước ngọt chất lượng cao, thì làm cái gì ăn cũng thấy ngon. Và đây cũng là nơi mình ở nhiều nhất trong thời gian qua, cho tới thời điểm này. Nhưng lý do chính vẫn là ở cái villa này :)

Cái villa này không ở gần biển cũng chẳng gần phố cổ. Nó nằm đúng chỗ uốn của sông Đế Võng, đủ xa hai chỗ kia để mà yên tĩnh, nhưng lại đi đâu cũng tiện. Đường tới biển An Bàng đi dọc theo tuyến đường đạp xe chạy qua những khúc sông với những bãi cỏ xanh mát có trâu tắm, thuyền chờ. Mỗi chiều đi biển về là lại ngắm hoài bầu trời vừa tắt nắng đang lặng lờ soi bóng trên mặt nước. Mới cách đây vài ngày lọ mọ tìm đường quanh nhà thì mới phát hiện ra bến sông gần nhà rất đẹp, có một dải cát đủ để kê bàn ghế uống trà, sáng ngắm bình minh (nếu dậy được sớm) và chiều ngắm hoàng hôn trong lúc thuyền nhà hàng xóm đi vào đi ra với những mẻ lưới buông trên sông. Bữa cơm có tôm tươi, lại thêm trứng tươi (cũng mua của hàng xóm), cùng với nước ngọt, thôi thì thơm ngon chẳng muốn nói nữa :P Dường như càng ở đây lâu thì "khám phá" thêm được nhiều thứ, và càng thấy nó giá trị thì phải?



Vậy mà ngày mai mình đã phải chia tay nó rồi. Rồi ông ngoại sẽ tìm được ai đó cho thuê vài năm, rồi cái villa này lại chất đầy đồ đạc đủ kiểu, rồi năm sau cả nhà sẽ lại phải chen chúc vô trong một cái khách sạn luxury gì đó vài ngày, với một căn phòng bóng bẩy vô hồn để rồi chạy sô ăn cho đủ, ngủ cho khỏe, bơi cho đã, để bù cho đủ số tiền bỏ ra. Nghĩ mà đã thấy xì-trét, chẳng thà cứ ở lại cái máng lợn Bắc Kỳ còn hơn ...


Mưa đã tạnh, không khí mát lạnh. Bước ra cửa nhìn lên trời lại thấy thật nhiều sao. Uống nốt ngụm trà ngọt còn sót lại rồi đi ngủ thôi nhỉ :)

30.12.15

nhà ở quê hay một cái đẹp đang dần biến mất

Cuối năm chắc người ta dễ trở nên sentimental và hoài cổ? Cả ngày hôm nay tôi cứ nghĩ mãi về căn nhà ngày xưa của ông bà ngoại tôi ở quê. Đó là nơi tôi đã sống liên tục trong khoảng 2 năm (từ 3-5 tuổi). Mẹ mới có em bé, bố đi làm xa, tôi lại là cháu đầu của ông bà, nên được về quê sống những ngày đó có lẽ là một điều may mắn của tôi. Nhưng kí ức không còn giữ lại nhiều ngoài những buổi chiều ngóng trông mẹ.

Dù giữ lại nhiều hay ít, hiển nhiên đó vẫn là một nơi gắn bó với tôi từ trong tiềm thức. Cho nên điều dễ hiểu là khi gần đây bác cả ở quê phá căn nhà cũ, mảnh vườn cũ đó đi để xây trên đó một căn nhà thờ hoành tráng thì tôi hụt hẫng vô cùng. Cảm giác đó không như một cú shock ập tới ngay lập tức, mà nó từ từ ngấm vào mỗi lần về quê lễ tết hay dịp giỗ ông giỗ bà. Gian nhà to đẹp, bàn thờ bằng gỗ quí, chắc tốn rất nhiều công sức tiền của, chắc bác tôi thấy tự hào với dân làng lắm lắm, chắc ông bà ở suối vàng cũng rất mát lòng mát dạ trước sự hiếu thảo của con của cháu. Nhưng tôi vẫn hờ hững trước bức tường sơn mới, trước cái sân bóng loáng trơn trượt, trước cả cái sập gỗ to và cái bàn thờ đắt tiền. Tôi nghĩ, chắc là tôi còn níu kéo, còn hoài cổ hơn cả bậc cha chú của mình.

Gần đây đọc xong cuốn In praise of shadows của Tanizaki và đang đọc Wabi-sabi của Leonard Koren, tôi mới nhận ra rằng ngoài cái sự níu kéo và hoài cổ hiển nhiên đó, căn nhà cũ đấy còn có một giá trị văn hóa và vẻ đẹp tự thân của nó mà nhà mới không bao giờ có được.

Một căn nhà nhỏ có ba gian thông nhau ở giữa, cùng với hai gian biệt lập ở hai đầu, vách đất. Nhà được xây mới từ sau trận lụt lịch sử năm 7x nào đó nên cũng không quá thấp, mái được lợp bằng ngói. Nhà quay về hướng Nam. Trước mặt là một sân gạch nho nhỏ mà cứ chiều chiều ông bà lại quét lá, rồi đến hàng cau cũng nho nhỏ, cây có quả cây không. Bên phải sân ở đầu nhà là một cái giếng sâu hun hút rêu bám đầy. Tiếp theo sân là một cái vườn hình vuông có một cây nhãn, một cây mít, một cây hồng xiêm và một đống rơm cứ đầy lên vào mùa gặt và sau đó vơi dần đi; xen kẽ giữa chúng là những luống rau thơm. Lệch sang bên trái là lối đi cũng bằng gạch ra tới cổng. Còn ngoài cùng bên trái, ngay đầu nhà lại là một cây nhãn cổ thụ khác không biết có từ bao giờ, rồi tới dãy chuồng gà ở dưới, chuồng chim bồ câu ở trên, sau đấy lại là một cây cau và bể đựng nước mưa với gáo dừa múc nước, rồi tới cái nhà bếp đối diện với đống rơm, và cái chuồng lợn ở ngay cạnh cổng. Ra khỏi cổng ở bên kia đường là một cái cầu ao có bậc là những tảng đá được che bóng bởi bụi cây tre to đùng ở hai bên. Đi tiếp bên trái qua một mảnh vườn trồng chuối xen kẽ với cây sung, cây ổi sẽ tới một cái toilet cũ phủ ngập lá cây quay mặt ra vườn quay lưng xuống nước, ban ngày thì mát rượi chim kêu vượn hót líu lo, ban đêm thì côn trùng rít inh ỏi tối thui thui sợ chẳng dám bước chân tới.

Trong nhà là hai cái giường ở hai bên, bàn thờ ở giữa, ở trước bàn thờ là bộ bàn ghế cũ. Cửa gỗ nhưng chỉ đến đêm mới đóng, bên ngoài cửa là tấm mành đan bằng nứa che nắng che gió che mưa. Có ba cái mành thì chỉ có một cái ở bên trái được móc lên làm lối đi, còn lại hai cái lúc nào cũng hạ xuống. Do vậy nhà lúc nào cũng hơi tôi tối. Đến đêm, ngay cả khi có điện thì ông cũng chỉ bật có một cái bóng mờ mờ yếu yếu. Hồi đó tôi nghĩ chắc ông muốn tiết kiệm điện, và cũng có thể là như thế. Nhưng quả thật một căn nhà quê kiểu đó sẽ trở nên xấu xí nhợt nhạt vô cùng nếu dùng đèn tuýp bật cho sáng choang lên. Ngay dưới mái tranh gần cái móc có treo một dãy cây cảnh không biết giống gì được trồng trong những cái sọ dừa, trườn lên bám sát và ẩn vào dưới mái. Ai đi qua mà không để ý thì sẽ không nhìn thấy. Hai cái tủ nho nhỏ để hai đầu nhà một cái của ông một cái của bà. Cái đài không biết có từ khi nào, mỗi tối ông bật lên nghe trước khi ngủ. Tôi nằm cạnh ông nghe vẩn nghe vơ, nhìn những vết nứt trên vách đất bên cạnh mà liên tưởng tới ngọn núi, con sông, cái cây hay cả những con quái vật. Trên cột gỗ giữa nhà ở đầu giường cạnh bàn thờ ông có khắc ngày sinh của tôi và của những đứa cháu tiếp theo của ông. Mọi thứ trong nhà đều cũ, nhưng hand-made từ gỗ cây, tre nứa, đất nung; chúng đều gọn, và nhỏ, đến nỗi sau này lớn lên mỗi lần về thăm là một lần tôi lại thấy mình như bị thừa tay thừa chân, mỗi bữa ăn là bà lại trêu thằng cháu ngồi một mình hết nửa mâm cơm rồi lại thở dài không biết có còn sống tới ngày nó lấy vợ ...

Ông tôi chưa bao giờ nói với tôi về kiến trúc nhà, về lối sống, về cái đẹp. Tôi cũng không chắc ông có đọc, có xây dựng cho bản thân một quan điểm, một phong cách sống rõ ràng nào đó, hay là không. Nhưng tôi biết chắc ông sống như tự nhiên nó là thế - mộc mạc, đẹp và hòa với thiên nhiên, giống như bát canh ông làm đãi cháu, đựng vào chiếc bát sứ xanh còn nhỏ hơn bát ăn cơm bây giờ, nhưng thịt ba chỉ, chuối xanh, đậu rán với hành và lá tía tô hòa quyện với nhau trong đó, ăn vào một miếng mà như thấy cả vẻ đẹp của đất trời.  

Sau này khi ông bà mất đi, căn nhà bị bỏ hoang dù thỉnh thoảng vẫn được ông bà là em của ông, của bà ở nhà bên cạnh sang quét dọn thắp hương. Mỗi lần về quê tôi đều ghé về, tần ngần đứng đó rõ lâu, có khi cầm máy lên chụp có khi không. Lần nào tôi cũng bị hút vào - một cái gì như là sự trộn lẫn của kỉ niệm, của tình thương, với cái vẻ đẹp tịch mịch, hài hòa với thiên nhiên, như tan vào thời gian, không gian mà căn nhà đó đem lại. 

Lần gần nhất về ăn giỗ, bác kể chuyện rằng xóm này (xóm Đình, nơi danh giá nhất làng xưa nay) giờ toàn nhà bỏ trống. Các cụ mất đi, con cháu hoặc là "thoát ly" (đi làm ở xa), hoặc là chuyển hết ra ở ngoài đê rồi cụ nào còn thì cũng ra đó ở luôn với con với cháu. Những căn nhà ba gian mái ngói bị bỏ hoang, những sân gạch phủ đầy rêu, những mảnh vườn xơ xác chăng đầy mạng nhện. Thay vào đó người ta chen chúc chui vào những nhà tầng hình ống bê tông cốt thép sơn xanh sơn đỏ đặt san sát nhau quay ra mặt đường. 

Tôi tự hỏi liệu chúng ta có đã cầm vàng mà tự đánh mất nó không? Google "nhà cổ" thì toàn ra tin về những căn biệt thự Pháp cổ cần được phục hồi gìn giữ. Trong khi hàng ngàn những làng quê cũng bình thường như quê tôi với bao nhiêu căn nhà giản dị mà đẹp đến thế lại đang bị chính tay chúng ta, hoặc là phá đi, hoặc là bỏ mặc cho thời gian tàn phá. Còn lại chỉ là một kí ức nhạt nhòa chắc cũng sẽ phai dần theo năm tháng, về một buổi chiều bình thường ở một căn nhà nhỏ bé, với người ông mái tóc bạc phơ đang ngồi đan rổ đầu hè, với bà đang thong thả vừa quét sân vừa rải thóc cho gà cho chim ăn, với một thằng nhóc là tôi đang tha thẩn chơi góc vườn hay ra cổng ngóng mẹ.